Ngày 24 Tháng 12, 2012 | 10:00 PM

Các chính sách và chương trình dân số tại Nhật Bản (5)

Các chính sách và chương trình dân số tại Nhật Bản (5)
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Không giống như các nước phương Tây, chung sống với nhau khi chưa cưới không phải là hiện tượng phổ biến ở Nhật Bản và phụ nữ độc thân sinh con cũng rất hiếm.

 
Thời kỳ tiếp tục giảm mức sinh, từ 1975 đến nay
 
Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa 1973 - 1980, kinh tế Nhật Bản không còn tăng trưởng nhanh, bất chấp những đổi mới trong công nghiệp và những nỗ lực không mệt mỏi của công nhân. Mức tăng GDP hàng năm giảm hơn 1,5 lần so với trước khủng hoảng. 

Bỗng nhiên, tình hình trở nên khó khăn cho lớp trẻ trong việc vay tiền để lo đám cưới và các nhu cầu về nhà ở. Cùng thời gian này, sự tham gia của nữ giới tại các trường đại học và cao đẳng gia tăng, đạt 32% vào năm 1975 và tiếp tục tăng những năm sau đó. 

Lượng học sinh nữ tại các trường trung học phổ thông vượt trội so với học sinh nam vào năm 1989 và đạt 48% vào năm 1995. Xu hướng này gắn với xu hướng lực lượng lao động nữ ngày càng tăng. Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 1955, 74% phụ nữ ở nhóm tuổi 20-24 và hơn 50% độ tuổi 20-60 tham gia lực lượng lao động (IPP 1966, 133,144).
 
Có lẽ tất cả những nhân tố này đã tạo nên xu hướng lập gia đình muộn và tiếp theo là giảm mức sinh. Tỷ lệ phụ nữ chưa từng lập gia đình ở nhóm tuổi 25- 29 tăng từ 21% năm 1975 lên 49% vào năm 1995. Mặc dù quy mô gia đình mong muốn của các cặp vợ chồng không thay đổi ở mức hai con, tỷ lệ gia tăng người độc thân tiếp tục làm đình trệ mức sinh. 

Không giống như các nước phương Tây, chung sống với nhau khi chưa cưới không phải là hiện tượng phổ biến ở Nhật Bản và phụ nữ độc thân sinh con cũng rất hiếm. Số ca sinh con ngoài giá thú vào năm 1994 là dưới 15.000, hay 1,2% trên tổng số ca sinh (IPP 1996,65). Kết quả là tổng tỷ suất sinh, trước năm 1974 duy trì ở mức trên 2,0 đã giảm xuống dưới mức 2,0 vào năm 1975 và vẫn tiếp tục giảm, đạt 1,76 vào năm 1985 và 1,43 vào năm 1996.
 
Mức sinh rất thấp này gây sự quan tâm đặc biệt từ phía các quan chức Chính phủ và công chúng. Những quan ngại chủ yếu tập trung vào vấn đề dân số già và tác động của nó đến những chi tiêu phúc lợi công cộng trong tương lai.
 
Hơn nữa, đáng lẽ phải quan tâm nhiều hơn đến khả năng thiếu lao động ngay từ khi tổng tỷ suất sinh của Nhật Bản chưa giảm xuống dưới mức sinh thay thế; suy thoái kinh tế khởi phát vào năm 1991 đã khiến cho mức sinh tiếp tục giảm xuống dưới mức thay thế, tạo nên một làn sóng dịch chuyển các ngành công nghiệp Nhật Bản sang các nước đang phát triển. 

Như tác giả được biết, khi đó chỉ có duy nhất một tờ báo thúc giục Chính phủ quan tâm nhiều hơn đến mức sinh như một phương cách giải quyết vấn đề dân số già. Chính phủ đã quyết định không can thiệp đến cuộc sống riêng của người dân và chính sách dân số tiếp tục là chính sách tự do. 

Chỉ trong những chính sách xã hội để cải thiện điều kiện cho phụ nữ và các gia đình, Chính phủ mới bắt đầu áp dụng các biện pháp khuyến sinh như nghỉ đẻ, xây dựng nhà trẻ, tăng trợ cấp cho trẻ em và tạo điều kiện cho phụ nữ quay trở lại nơi làm việc sau khi sinh con (Y.Okazak 1997, 131-36).
 
Giáo sư Shunichi Inoue
Trường Cao đẳng Khoa học và Nhân văn (Đại học Nihon, Tokyo)
(Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC