Ngày 24 Tháng 12, 2012 | 05:46 PM

Các chính sách và chương trình dân số tại Nhật Bản (3)

Các chính sách và chương trình dân số tại Nhật Bản (3)
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Thời kỳ bùng nổ dân số sau chiến tranh và giai đoạn 1945 - 1955 cũng chứng kiến những cải thiện về y tế công do những hoạt động của các trung tâm y tế công của Nhật Bản và những tiến bộ về thuốc men.

Bùng nổ dân số sau chiến tranh và giai đoạn 1945 - 1955

Khi Đại chiến Thế giới thứ II chấm dứt, một Nhật Bản thất bại phải đối mặt với nền kinh tế kiệt quệ, trong một lãnh thổ nhỏ và quá đông dân. Hầu hết các nhà máy và máy móc của Nhật Bản đã bị phá hủy trong những cuộc tấn công của lực lượng đồng minh; những tài sản còn lại được sử dụng như những đền bù thiệt hại chiến tranh của Nhật Bản. 

Hàng triệu cựu chiến binh và người dân bắt đầu từ nước ngoài trở về Nhật Bản. Chỉ trong năm 1946 và 1947, số người Nhật Bản hồi hương được ước tính vào khoảng 4,5 triệu người. Những người hồi hương, chủ yếu là nam giới, được đoàn tụ với vợ hoặc lấy vợ. Bùng nổ kết hôn dẫn đến bùng nổ số trẻ em chào đời diễn ra liên tục trong một số năm.
 
Năm 1951, tỷ lệ sinh tăng trở lại ở mức trước chiến tranh. Trong suốt thời kỳ bùng nổ dân số này, tỷ suất sinh thô đạt 34,4%o vào năm 1947 và duy trì trên 30%o trong một số năm. Vừa tăng số người hồi hương vừa bùng nổ dân số tạo nên một làn sóng gia tăng dân số, đạt mức tăng trưởng 5% vào năm 1946 và sau đó bắt đầu suy giảm – 3,1% vào năm 1947 và 2,4% năm 1948, và 2,2% vào năm 1949. 

Tốc độ tăng trưởng dân số Nhật Bản là chưa có tiền lệ và làm ngạc nhiên nhiều người, bao gồm cả những chính trị gia và các nhà kinh tế học có uy tín. Đột nhiên, quá tải dân số được nhìn nhận như một mối đe doạ và rất nhiều người đã lên tiếng cảnh báo (A. Okazaki 1957, 171-74).
 
Thời kỳ này cũng chứng kiến những cải thiện về y tế công do những hoạt động của các trung tâm y tế công của Nhật Bản và những tiến bộ về thuốc men.
 
Tỷ suất chết thô giảm từ 14,6%o năm 1947 xuống còn 7,8%o trong năm 1955. Mức chết giảm tạo điều kiện cho gia tăng nhanh dân số. Từ năm 1945 - 1951, lực lượng đồng minh đóng quân và cai quản Nhật Bản; quyền lực và các giá trị tinh thần đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến người dân Nhật Bản, khiến quốc gia này chuyển từ chế độ quân chủ sang chế độ dân chủ. 

Năm 1949, Tổng tư lệnh liên quân mời hai chuyên gia dân số người Mỹ là Warren S. Thompson và Pascal K. Whelpton đến Nhật Bản. Cả hai chuyên gia này đều cảnh báo Nhật Bản về hiểm hoạ gia tăng nhanh dân số, ủng hộ việc áp dụng các biện pháp tránh thai để kiểm soát dân số. 

Khi những ý kiến của họ được đăng trên các báo tại Nhật Bản, họ đã phải đối mặt với những phe đối lập, những người đại diện cho Nhà thờ Thiên chúa giáo, bao gồm cả các giáo sỹ của khu vực Tokyo Yokohama và Câu lạc bộ Phụ nữ Thiên chúa giáo Liên quân tại Tokyo.
 
Đối mặt với những phản đối này, Tổng tư lệnh Liên quân thông báo rằng quan điểm của Warren S. Thompson và Pascal K. Whelpton là những ý kiến của chuyên gia và rằng Liên quân trung lập trong vấn đề kiểm soát sinh. Vấn đề kiểm soát sinh là do người dân Nhật Bản tự quyết định.
 
Tuy nhiên, quan điểm của hai chuyên gia dân số nước ngoài dường như cũng tác động đến nhiều người dân Nhật Bản. Trong vòng vài năm tiếp theo, ít nhất 16 tổ chức và nhóm được thành lập để ủng hộ kiểm soát sinh. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai bắt đầu tăng mạnh (Matsumura 1977, 167-78). 

Chính phủ Nhật Bản, vốn dĩ đã không ủng hộ cuộc vận động kiểm soát dân số, vẫn giữ quan điểm rằng việc sử dụng các biện pháp tránh thai là quyền tựn quyết của mỗi người dân. Nhưng vào năm 1947, Chính phủ đã thay đổi Luật Dược (Yakuji Ho) cho phép các công ty tư nhân sản xuất và phân phối các loại phương tiện tránh thai. 

Tháng 5/1949, Chính phủ cũng thành lập Hội đồng các Vấn đề Dân số (Jinko Mondai Shingikai) và Hội đồng này trình lên nghị quyết đầu tiên về chính sách dân số cơ bản vào tháng 11 năm 1949. Trong các đề xuất của mình, Hội đồng đề nghị củng cố hoạt động của các trung tâm y tế công và các văn phòng tư vấn hôn nhân, cũng như phân phối miễn phí phương tiện tránh thai và thuốc tránh thai. 

Năm 1954, Hội đồng trình lên Bộ Y tế và Phúc lợi một nghị quyết ủng hộ việc kiểm soát quy mô dân số quốc gia, và vào năm 1955 Hội đồng ủng hộ việc giảm gia tăng dân số tới mức đất nước có thể tự túc được (Mainichi Shimbun Sha 1992, 345-46).
 
Tháng 10/1951, Nội các Nhật Bản quyết định thúc đẩy kiểm soát sinh, và vào tháng 6/1952, Bộ Y tế và Phúc lợi thông qua Hướng dẫn khuyến khích kiểm soát sinh. Trong những năm tiếp theo, Viện các Vấn đề Dân số và Viện Y tế Công Quốc gia trực thuộc Bộ Y tế (Koshu Eisei In) bắt đầu thúc đẩy kiểm soát sinh tại các “quận thí điểm mô hình”.
 
Theo ghi nhận của báo chí trong năm 1955, Bộ Y tế và Phúc lợi tiến hành mở rộng các hoạt động khuyến khích kiểm soát sinh, đảm bảo hỗ trợ khoản lớn từ ngân sách trung ương và các chính quyền địa phương cho mục đích này.
 
Tuy nhiên, sự tham gia của Chính phủ trong các hoạt động kiểm soát sinh không kéo dài quá lâu do các tổ chức tư nhân và bản thân các cặp vợ chồng đã gánh vác trách nhiệm KHHGĐ (Minami 1972, 67-70). Năm 1952, Sanger thăm lại Nhật Bản và ủng hộ mạnh mẽ việc tạo điều kiện để các biện pháp kiểm soát sinh sẵn có cho tất cả những ai muốn thực hiện KHHGĐ. 

Chuyến thăm của bà giúp tạo nên một sự hỗ trợ nhất định trong những chuyển biến về kiểm soát sinh của Nhật Bản. Các tờ báo đăng quảng cáo về các loại phương tiện tránh thai hầu như ra hàng ngày, và nhiều các loại sách, tờ rơi được xuất bản, mô tả quá trình tái sinh sản ở người và các kỹ thuật tránh thai cụ thể. 

Theo kết quả khảo sát của Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế và Phúc lợi), việc cung cấp các sản phẩm tránh thai như viên uống tránh thai, viên đặt, kem, bao cao su, vòng tránh thai, băng vệ sinh và các sản phẩm vệ sinh gia tăng rất nhanh, với tổng giá trị đạt khoảng 400 triệu Yên vào năm 1953 (A. Okazaki 1952, 184-88).
 
Theo kết quả khảo sát của Viện các Vấn đề Dân số, với cơn sốt kiểm soát sinh lan rộng, tỷ lệ các cặp vợ chồng thành thị trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng từ 25% lên 28% chỉ trong vòng ba năm (1950 - 1952), và tỷ lệ này ở các cặp vợ chồng nông thôn thậm chí còn cao hơn, từ 12 đến 18% trong cùng thời kỳ.
 
Sự phổ biến các biện pháp tránh thai ở người Nhật không ngừng gia tăng. Theo các khảo sát định kỳ do Báo Mainichi thực hiện năm 1950, tỷ lệ phụ nữ Nhật Bản đang sử dụng hoặc đã sử dụng các biện pháp tránh thai tăng từ 29% trong năm 1950 lên 52% năm 1955, và lên đến 68% vào năm 1961 (Mainichi Shinbun Sha 1992, 54). 

Biện pháp tránh thai phổ biến nhất là bao cao su, đạt tỷ lệ hơn 50% số người sử dụng kể từ năm 1952 và thậm chí đạt mức 80% vào năm 1980. Biện pháp phổ biến thứ hai trong suốt thập niên 50 và 60 là biện pháp tính chu kỳ kinh nguyệt, khoảng 30-40% người chấp nhận thực hiện KHHGĐ sử dụng biện pháp này. 

Tuy nhiên, tỷ lệ thất bại cũng khá cao và rất nhiều người trong số họ phải tìm kiếm giải pháp nạo phá thai. Nạo phá thai được coi là hợp pháp tại Nhật Bản từ năm 1948 (Mainichi Shinbun Sha 1992, 54).
 
Vào năm 1917, các chính trị gia và các học giả Nhật Bản bày tỏ sự quan tâm về sự di truyền các bệnh thần kinh. Vào năm 1938, Bộ Y tế và Phúc lợi thành lập Uỷ ban Ưu sinh để xử lý các vấn đề ưu sinh. Hai năm sau, Chính phủ ban hành Luật Ưu sinh Quốc gia (Kokumin Yusei-ho), cho phép các bác sĩ thực hiện triệt sản “ưu sinh” theo nguyện vọng của bệnh nhân. Tuy nhiên, số ca phẫu thuật là không nhiều, chưa bao giờ vượt quá mức 200 ca một năm trong suốt thời kỳ.
 
Quy định này không nhằm mục đích tác động đến tăng trưởng dân số và cũng không liên quan đến chính sách dân số (A. Okazaki 1957, 195-99). Tháng 7/1948, Luật Bảo vệ Ưu sinh được thông qua thay thế Luật Ưu sinh Quốc gia cũ. Luật mới có hai đặc trưng cơ bản: Cho phép chỉ định triệt sản nhằm mục đích ưu sinh với những điều kiện cụ thể, và cho phép nạo phá thai vì mục đích ưu sinh cũng như bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của người mẹ. 

Theo luật mới (hiện nay vẫn còn hiệu lực), nếu người mẹ có tiền sử bệnh lý, hoặc người mẹ mang thai do bị hãm hiếp, hoặc nếu có vấn đề về sức khoẻ hay kinh tế khó khăn, thì những yếu tố này được coi là nguy cơ gây hại cho cuộc sống và sức khoẻ của người mẹ. Nói khác đi, trong điều kiện đó phụ nữ mang thai có thể thực hiện nạo phá thai hợp pháp vì nếu không, việc mang thai sẽ đe doạ sức khỏe và tình trạng kinh tế của người mẹ. 

Những quy định mở này cho phép các bác sĩ thực hiện các ca phá thai bất cứ khi nào sản phụ yêu cầu, bất kể lý do (A. Okazaki 1957, 199-203). Rất khó có thể coi quy định này được thông qua chỉ đơn thuần với mục đích ưu sinh; nó trở nên một biện pháp pháp lý hữu hiệu nhằm xoá bỏ những ca mang thai ngoài ý muốn. Như vậy, nó nhanh chóng kiểm soát được việc gia tăng nhanh dân số.
 
Sau khi ban hành Luật này, số ca nạo phá thai được báo cáo tăng từ 102.000 vào năm 1949 lên đến 1.170.000 vào năm 1955. Và còn rất nhiều ca không được báo cáo. Năm 1955, tỷ lệ nạo phá thai được báo cáo so với số ca sinh là 68% (IIP 1996, 66). 

Do những thất bại phổ biến trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai trong những năm đầu, rất nhiều phụ nữ thực hiện nạo phá thai như giải pháp đơn giản chấm dứt mang thai ngoài ý muốn. Một vài cặp vợ chồng thậm chí còn không buồn sử dụng các biện pháp tránh thai, thay vào đó dựa vào nạo phá thai để hạn chế quy mô gia đình. 

Những con số lớn về nạo phá thai, kể cả được báo cáo và không được báo cáo cho thấy rằng biện pháp kiểm soát sinh này là nguyên nhân chính làm suy giảm nhanh mức sinh tại Nhật Bản vào đầu thập niên 50.
 
Còn tiếp
Giáo sư Shunichi Inoue
Trường cao đẳng khoa học và nhân văn (Đại học Nihon, Tokyo)
(Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC