Ngày 24 Tháng 12, 2012 | 07:18 PM

Các chính sách và chương trình dân số tại Nhật Bản (4)

Các chính sách và chương trình dân số tại Nhật Bản (4)
  MỚI NHẤT

GiadinhNet -Trong thời kỳ mức sinh ổn định 1955 - 1975, Nhật Bản trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận.

Báo cáo Kinh tế thường niên năm 1956 của Chính phủ (Keizai Hakusho) thông báo rằng thời kỳ tái thiết sau chiến tranh đã kết thúc khi thu nhập đầu người đã đạt mức trước chiến tranh vào năm 1955. Trong suốt hai thập niên sau thông báo này, Nhật Bản trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận.
 
Tổng thu nhập bình quân đầu người đạt mức như tại nhiều quốc gia châu Âu. Sản lượng công nghiệp tăng nhanh chóng, và một cuộc chuyển đổi khổng lồ lực lượng lao động nông nghiệp sang công nghiệp đã xảy ra nhằm đáp ứng các nhu cầu lao động công nghiệp. Những thay đổi này đã tạo nên một dịch chuyển dân số lớn từ nông thôn đến các khu vực thành thị.
 
Trong những năm này, nhu cầu lao động cho mở rộng các ngành công nghiệp sản xuất là rất lớn và đã được đáp ứng nhờ dân số trong độ tuổi sinh đẻ tăng nhanh (đó là đoàn hệ sinh ra từ trước chiến tranh và do tăng bù sau chiến tranh với những mức sinh khá cao). 

Tỷ lệ tăng hàng năm ở nhóm dân số trong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49) là khoảng 2% trong những năm 50 và duy trì trên 1% trong những năm 60. Do mức sinh đã giảm ổn định, khoảng cách giữa tỷ lệ tăng trưởng dân số (người tiêu thụ) và dân số ở độ tuổi sinh đẻ (người sản xuất) đã được nới rộng đáng kể. Điều này tạo nên cái gọi là dư lợi dân số hay còn gọi là cơ cấu dân số vàng khi số người lao động tăng nhanh hơn rất nhiều so với số người tiêu thụ.
 
Đặc trưng của thời kỳ này là mức sinh ổn định. Trong giai đoạn 1955 - 1975, tỷ suất sinh thuần (số con gái trung bình của một phụ nữ sinh ra đủ thay thế họ) được duy trì ở mức sinh thay thế (từ 0,9 đến 1,06; chỉ số sai lệch không đáng kể).
 
Mức sinh giảm mạnh trong năm 1966 là một ngoại lệ, khi tỷ suất sinh thuần giảm xuống mức 0,73. Đó là năm Hinoeuma, năm Ngựa bạch theo lịch âm của Trung Quốc. Theo mê tín truyền thống của Trung Quốc, con gái sinh vào năm này sẽ sát chồng. Rất nhiều các cặp vợ chồng Nhật Bản tránh sinh con vào năm này nhằm ngăn chặn những khó khăn về cưới xin trong tương lai cho con gái.
 
Trong suốt thời kỳ mức sinh ổn định này, các biện pháp tránh thai được thực hiện rộng rãi hơn. Theo kết quả khảo sát của Mainichi Shinbun, tỷ lệ phụ nữ có chồng dưới 50 tuổi đang sử dụng các biện pháp tránh thai tăng từ 33,6% lên 60,5% trong giai đoạn 1955-75. 

Nếu cộng thêm cả những người đã từng một lần sử dụng các biện pháp tránh thai, tỷ lệ này tăng từ 52,5% lên đến 81,5% (Mainichi Shinbun Sha 1992, 4). Kết quả là Chính phủ dừng việc coi KHHGĐ như một vấn đề chính sách dân số và bắt đầu chuyển ngân sách đầu tư cho chương trình KHHGĐ sang cho y tế và phúc lợi xã hội của người dân. Năm 1959, Bộ Y tế và Phúc lợi chuyển các nhiệm vụ liên quan đến KHHGĐ cho Vụ Bảo vệ Bà Mẹ và Trẻ em.
 
Ban đầu lượng lao động di cư từ nông thôn đến thành thị và lượng dân số trẻ của thời kỳ bùng nổ dân số sau chiến tranh đáp ứng được các nhu cầu lao động công nghiệp. Nhưng đến cuối thời kỳ này bắt đầu xuất hiện hiện tượng thiếu lao động trong các ngành công nghiệp xây dựng và sản xuất quy mô nhỏ, nơi mà công việc thường được coi là vất vả và nguy hiểm. Các nhà kinh tế học đã cảnh báo về khả năng thiếu lao động (Oobuchi 1992, 135-51) và rất nhiều lãnh đạo kinh tế yêu cầu Chính phủ thông qua chính sách khuyến sinh và cấp thị thực cho các công nhân nước ngoài không có tay nghề.
 
Trước Hội nghị Dân số Thế giới lần đầu tiên được tổ chức tại Bucharest năm 1977, các vấn đề dân số Nhật Bản được các chuyên gia dân số thảo luận tại Hội đồng các Vấn đề Dân số. Hội đồng đã nhận thấy sự gia tăng dân số toàn cầu và kiến nghị Nhật Bản thông qua chính sách nhằm ổn định dân số trong tương lai (Matsumura 1977, 176). Đề xuất này, cùng với tác động của suy giảm kinh tế trong nửa cuối những năm 70 đã khởi nguồn cho những tranh cãi về khuyến sinh của Nhật Bản.
 
Còn tiếp
Giáo sư Shunichi Inoue
Trường Cao đẳng Khoa học và Nhân văn (Đại học Nihon, Tokyo)
(Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC