Ngày 14 Tháng 10, 2017 | 01:00 PM

Huế: Lấy sỏi ống mật thành công bằng nội soi ngược dòng tại tuyến cơ sở

GiadinhNet - Bệnh viện Trung ương Huế cơ sở 2 vừa triển khai kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng giúp lấy sỏi ống mật chủ thành công cho bệnh nhân N.T.C 60 tuổi (ở Phong Điền).


Ca mổ nội soi mật tụy ngược dòng tại BV. Ảnh: N.Tân

Ca mổ nội soi mật tụy ngược dòng tại BV. Ảnh: N.Tân

PGS.TS Phạm Như Hiệp, Giám đốc Bệnh viện Trung ương (TƯ) Huế cho biết: Sau hai ngày được các y bác sĩ của Bệnh viện TƯ Huế cơ sở 2 nội soi lấy mật bằng phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP), bệnh nhân N.T.C đã hết đau hạ sườn phải, không có biến chứng và bắt đầu ăn uống trở lại bình thường.

Ca nội soi được ê-kíp ThS.BS Nguyễn Thanh Xuân, Phó Giám đốc Bệnh viện TƯ Huế cơ sở 2, bác sĩ chuyên khoa 2 Trần Như Nguyên Phương, Trưởng khoa Nội soi và bác sĩ chuyên khoa 1 Hồ Ngọc Sang, Phó Trưởng khoa Nội soi thực hiện ngày 10/10. Sau 15 phút nội soi, viên sỏi trong ống mật chủ gây tắc nghẽn được lấy ra dễ dàng.

PGS.TS Nguyễn Như Hiệp đánh giá: Đây là ca nội soi mật tụy ngược dòng đầu tiên được thực hiện thành công tại cơ sở 2 của Bệnh viện, nhờ được trang bị đầy đủ các thiết bị nội soi can thiệp. Ưu điểm của kỹ thuật lấy sỏi ống mật chủ bằng phương pháp nội soi ngược dòng là can thiệp lấy sỏi qua đường tự nhiên của cơ thể, tránh cuộc phẫu thuật lớn. Bệnh nhân bình phục nhanh sau khi được lấy sỏi. Đây cũng là một trong những kỹ thuật cao lần đầu tiên được đưa vào áp dụng tại tuyến cơ sở của bệnh viện để giảm tải tuyến Trung ương.

Nội soi mật tụy ngược dòng hay còn gọi tắt là ERCP (Endoscopic Retrograde Cholangio Pancreatography) là một kỹ thuật chuyên biệt sử dụng ống nội soi mềm đưa qua thực quản, dạ dày đến đoạn DII của tá tràng để quan sát và đánh giá hình dạng của đường mật tụy với sự kết hợp của X-quang. Qua đó có thể can thiệp điều trị khi có chỉ định. ERCP là một kỹ thuật vừa chẩn đoán vừa can thiệp điều trị một cách hiệu quả đối với các bệnh lý đường mật tụy. Trải qua một quá trình lâu dài hình thành và không ngừng cải tiến ứng dụng, ERCP đã chứng tỏ được các ưu điểm vượt trội của mình, cái lợi lớn nhất là giúp cho người bệnh tránh được một cuộc phẫu thuật lớn mà hiệu quả điều trị lại triệt để hơn. Hiện nay, với Đề án Bệnh viện vệ tinh và Đề án 1816 của Bộ Y tế, tất cả người bệnh ở tất cả các địa phương đều có cơ hội tiếp cận và hưởng những ưu thế của kỹ thuật này.

M.Việt – N.Long

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC