Ngày 26 Tháng 7, 2018 | 09:30 AM

Hoa khôi đá cầu tử vong sau 5 năm chống chọi ung thư vú di căn: Hiểm họa “gọi tên” nhiều phụ nữ nhất

GiadinhNet - Thông tin Hoa khôi đá cầu Việt Nam Nguyễn Thị Huyền Trang (SN 1985) tử vong sau 5 năm chiến đấu với bệnh ung thư vú di căn khiến nhiều người không khỏi xót xa. Đây là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới cướp đi nhiều sinh mạng nhất, trong khi nếu được phát hiện sớm, cơ hội sống rất cao.


Bác sĩ Bệnh viện K thăm khám cho bệnh nhân tầm soát ung thư vú.     Ảnh: V.Thu

Bác sĩ Bệnh viện K thăm khám cho bệnh nhân tầm soát ung thư vú. Ảnh: V.Thu

5 năm vật vã chiến đấu bệnh quái ác

Nguyễn Thị Huyền Trang (SN 1985) là vận động viên đá cầu nổi tiếng ở Việt Nam và đấu trường quốc tế. Cô gái xinh đẹp được mệnh danh là “Hoa khôi” này từng là trụ cột trong đội tuyển đá cầu Việt Nam, cùng đồng đội giành nhiều Huy chương quốc gia, SEA Games và thế giới. Trong số này có 2 Huy chương Vàng SEA Games 22 đôi nữ và đồng đội nữ; 2 Huy chương Vàng thế giới năm 2005, 2007.

Năm 2013, Huyền Trang phát hiện mắc ung thư vú khi bệnh di căn tới xương khiến cô liệt nửa người. Từ đó tới nay, Huyền Trang kiên cường chiến đấu với căn bệnh này. Một tháng nay, căn bệnh ung thư vú quái ác di căn sang xương, bất ngờ tái phát, trầm trọng. Cô gái vàng của môn đá cầu Việt đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 23/7.

GS.TS Trần Văn Thuấn – Giám đốc Bệnh viện K cho biết, ung thư vú là căn bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới. Ở nước ta, mỗi năm có khoảng 126.000 ca mới mắc và 94.000 trường hợp tử vong do ung thư. Riêng ung thư vú chiếm khoảng 11.000 ca mới mắc và trên 5.000 trường hợp tử vong. Đáng buồn là xu hướng mắc bệnh ung thư vú ngày một gia tăng và ngày càng trẻ hoá.

Số liệu ghi chép những năm gần đây cho thấy, nguy cơ mắc ung thư vú ở nhóm phụ nữ từ 40 tuổi trở lên cao hơn hẳn so với các nhóm tuổi khác. Tuy nhiên, theo GS.TS Trần Văn Thuấn, qua tầm soát và điều trị ung thư, các bác sĩ còn phát hiện những bệnh nhân ung thư vú ở lứa tuổi sớm hơn rất nhiều.

“Qua thống kê, một số loại ung thư, trong đó điển hình là ung thư vú, có vẻ như độ tuổi mắc bệnh ở Việt Nam so với các nước khác là thấp hơn. Chúng tôi gặp ở bệnh nhân 30 tuổi, thậm chí có những người 20 tuổi cũng đã mắc ung thư vú. Điều này cho thấy, không chỉ phụ nữ trung niên trở lên mới có nguy cơ mắc bệnh”, GS.TS Trần Văn Thuấn nói.

Đồng tình với quan điểm này, PGS.TS Nguyễn Bá Đức - nguyên Giám đốc Bệnh viện K chia sẻ với PV Báo Gia đình & Xã hội: Ở châu Âu, nguy cơ mắc ung thư vú cao từ độ tuổi 50, đỉnh cao nhất là khi 60 tuổi. Trong khi ở Việt Nam, từ 10 năm trở lại đây, bệnh thường bắt đầu từ khi 40 tuổi và cao nhất là 55 - 60 tuổi.

Theo PGS.TS Nguyễn Bá Đức, ung thư vú do nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó có yếu tố về gene. Cơ thể phụ nữ có những gene dễ mắc bệnh ung thư vú, nhưng tỷ lệ phụ nữ Việt Nam bị ung thư vú do yếu tố di truyền chỉ 2%, trong khi đó, ở phụ nữ nước ngoài lại là 40%.

“Vậy tại sao tỷ lệ phụ nữ Việt Nam mắc/có nguy cơ mắc ung thư vú cao đến vậy? Rõ ràng, yếu tố môi trường có ảnh hưởng lớn. Đó là do ô nhiễm trong thức ăn bởi chất thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trọng, rồi chế độ ăn thực phẩm rán cháy nhiều hay lối sống lười vận động. Đặc biệt, việc không sinh con hoặc sinh con muộn (khoảng trên dưới 40 tuổi) cũng là yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc/mắc ung thư vú”, PGS.TS Nguyễn Bá Đức nói.

Phát hiện sớm, cơ hội sống rất cao

Các chuyên gia khẳng định, ung thư vú nếu được phát hiện sớm và điều trị phù hợp, kịp thời, cơ hội kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân là rất cao. GS.TS Trần Văn Thuấn cho biết, việc tầm soát và phát hiện sớm ung thư vú có ý nghĩa rất lớn trong điều trị. Nếu được phát hiện ở giai đoạn đầu có thể chữa khỏi bệnh tới hơn 80%, ở giai đoạn 2 tỷ lệ này 60%, sang giai đoạn 3 khả năng khỏi hẳn thấp và đến giai đoạn 4 thì thường việc điều trị chỉ để kéo dài cuộc sống, giảm bớt các triệu chứng đau đớn.

Nhờ áp dụng những thành tựu mới trong chẩn đoán và điều trị, hiện nay nhiều bệnh nhân ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn sớm với tỷ lệ sống trên 5 năm tới 85,6% so với tỷ lệ 67,7% ở những năm 1990 tại Bệnh viện K.

Một thành tựu nữa trong công tác điều trị ung thư vú được GS.TS Trần Văn Thuấn chia sẻ, ngày nay các bệnh nhân ung thư vú có cơ hội sống lâu dài bởi các thuốc điều trị bệnh vô cùng phong phú. Các thuốc hóa chất, nội tiết, chống di căn xương mới nhất và hoạt tính chống u cao, tác dụng phụ thấp đều đã có mặt và được áp dụng tại Bệnh viện K.

Đặc biệt, những năm gần đây, các thuốc điều trị đích trong đó có kháng thể đơn dòng trastuzumab (Herceptin) với khả năng tìm tế bào ung thư để tiêu diệt, hạn chế ảnh hưởng đến tế bào lành đã được ứng dụng trong điều trị. Các thuốc chống nôn, thuốc kích thích bạch cầu thế hệ mới đã hỗ trợ tích cực cho các phương pháp điều trị chính, giúp bệnh nhân vượt qua được các tác dụng phụ của điều trị.

Các chuyên gia lưu ý, không phải cứ khám thấy có u ở vú là chắc chắn bị ung thư. Cứ 10 người thấy u ở vú thì đến 9 người u lành, chỉ có một bị u ác tính. Để có thể phát hiện sớm, cần khám vú định kỳ: Bằng siêu âm vú 3 - 6 tháng một lần. Đây là phương tiện chẩn đoán tốt, không xâm lấn, không đau, giá cả phù hợp. Ngoài ra, không phải chờ đến 40 tuổi mới khám, tầm soát ung thư vú mà cần thực hiện khám vú với mọi phụ nữ trên 20 tuổi. Phụ nữ nên tự khám ngực mình từ ngày thứ 8 của chu kỳ kinh hay sau khi sạch kinh 5 ngày với nhịp độ mỗi tháng một lần, bởi đây là thời kỳ vú mềm nhất, dễ phát hiện khối u cục, mảng dày ở ngực nhất. Khi tự khám đều đặn, phụ nữ sẽ biết tình trạng mỗi bên vú nên rất dễ phân biệt được đâu là bình thường đâu là bất thường.

Dấu hiệu để nhận biết ung thư vú đã di căn sang xương là đau xương, xương yếu, gãy xương, thiếu máu… Khi đã di căn vào xương, bệnh ung thư vú đã ở giai đoạn 4 - giai đoạn cuối và khó có thể chữa khỏi được hoàn toàn. Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư sẽ hình thành một khối u ở vú và có thể lan tới bất cứ nơi nào trên cơ thể. Vị trí xâm lấn nhiều nhất đó là xương. Khoảng 70% trường hợp ung thư vú di căn bị ung thư xương. Khi di căn sang xương, các tế bào ác tính có thể làm phá hủy xương, gây loãng xương nghiêm trọng, nhất là dẫn đến gãy xương.

Quỳnh An

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC