Ngày 28 Tháng 11, 2013 | 11:29 AM

Chính sách giảm sinh tại Hàn Quốc và Nhật Bản: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Chính sách giảm sinh tại Hàn Quốc và Nhật Bản: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

GiadinhNet - Mặc dù thời gian thực hiện chính sách giảm sinh của Hàn Quốc và Nhật Bản khác nhau, song mục tiêu chung của 2 quốc gia khi thực hiện chính sách này là để thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế.

Chính sách giảm sinh của Nhật Bản

 Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa 1973 - 1980, kinh tế Nhật Bản không còn tăng trưởng nhanh, bất chấp những đổi mới trong công nghiệp và những nỗ lực không mệt mỏi của công nhân. Mức tăng GDP hàng năm giảm hơn 1,5 lần so với trước khủng hoảng. 

 Bỗng nhiên, tình hình trở nên khó khăn cho lớp trẻ trong việc vay tiền để lo đám cưới và các nhu cầu về nhà ở. Cùng thời gian này, sự tham gia của nữ giới tại các trường đại học và cao đẳng gia tăng, đạt 32% vào năm 1975 và tiếp tục tăng những năm sau đó. 

 Lượng học sinh nữ tại các trường trung học phổ thông vượt trội so với học sinh nam vào năm 1989 và đạt 48% vào năm 1995. Xu hướng này gắn với xu hướng lực lượng lao động nữ ngày càng tăng. Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 1955, 74% phụ nữ ở nhóm tuổi 20-24 và hơn 50% độ tuổi 20-60 tham gia lực lượng lao động (IPP 1966, 133,144).

 Có lẽ tất cả những nhân tố này đã tạo nên xu hướng lập gia đình muộn và tiếp theo là giảm mức sinh. Tỷ lệ phụ nữ chưa từng lập gia đình ở nhóm tuổi 25- 29 tăng từ 21% năm 1975 lên 49% vào năm 1995. Mặc dù quy mô gia đình mong muốn của các cặp vợ chồng không thay đổi ở mức hai con, tỷ lệ gia tăng người độc thân tiếp tục làm đình trệ mức sinh. 

 Không giống như các nước phương Tây, chung sống với nhau khi chưa cưới không phải là hiện tượng phổ biến ở Nhật Bản và phụ nữ độc thân sinh con cũng rất hiếm. Số ca sinh con ngoài giá thú vào năm 1994 là dưới 15.000, hay 1,2% trên tổng số ca sinh (IPP 1996,65). Kết quả là tổng tỷ suất sinh, trước năm 1974 duy trì ở mức trên 2,0 đã giảm xuống dưới mức 2,0 vào năm 1975 và vẫn tiếp tục giảm, đạt 1,76 vào năm 1985 và 1,43 vào năm 1996.

 Mức sinh rất thấp này gây sự quan tâm đặc biệt từ phía các quan chức Chính phủ và công chúng. Những quan ngại chủ yếu tập trung vào vấn đề dân số già và tác động của nó đến những chi tiêu phúc lợi công cộng trong tương lai.

 Hơn nữa, đáng lẽ phải quan tâm nhiều hơn đến khả năng thiếu lao động ngay từ khi tổng tỷ suất sinh của Nhật Bản chưa giảm xuống dưới mức sinh thay thế; suy thoái kinh tế khởi phát vào năm 1991 đã khiến cho mức sinh tiếp tục giảm xuống dưới mức thay thế, tạo nên một làn sóng dịch chuyển các ngành công nghiệp Nhật Bản sang các nước đang phát triển. 

 Như tác giả được biết, khi đó chỉ có duy nhất một tờ báo thúc giục Chính phủ quan tâm nhiều hơn đến mức sinh như một phương cách giải quyết vấn đề dân số già. Chính phủ đã quyết định không can thiệp đến cuộc sống riêng của người dân và chính sách dân số tiếp tục là chính sách tự do. 

 Chỉ trong những chính sách xã hội để cải thiện điều kiện cho phụ nữ và các gia đình, Chính phủ mới bắt đầu áp dụng các biện pháp khuyến sinh như nghỉ đẻ, xây dựng nhà trẻ, tăng trợ cấp cho trẻ em và tạo điều kiện cho phụ nữ quay trở lại nơi làm việc sau khi sinh con (Y.Okazak 1997, 131-36).

 Chính sách giảm sinh của Hàn Quốc

 Quá trình chuyển đổi mức sinh ở Hàn Quốc bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ XX cùng với việc triển khai chương trình KHHGĐ của Chính phủ.

 Giai đoạn đầu (1961-1970)

 Thập niên 60 là giai đoạn tạo lập nền tảng cho chương trình (bao gồm: sửa đổi và loại bỏ những trở ngại pháp lý, hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy làm công tác KHHGĐ, xây dựng hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu).

 Nét đặc trưng của chương trình KHHGĐ Hàn Quốc trong suốt thời kỳ sơ khai là: Mục tiêu cơ bản là thúc đấy tăng trưởng nền kinh tế; Biện pháp thực hiện là tuyên truyền vận động và cung cấp dịch vụ. Hội KHHGĐ được thành lập nhằm bước đầu khởi xướng công tác KHHGĐ, quản lý các nhiệm vụ và hoạt động liên quan đến KHHGĐ. Hội KHHGĐ chỉ đạo nhất quán nhiều chương trình KHHGĐ và hầu hết các thành viên tham gia Hội là bác sĩ. Ngoài Hội KHHGĐ, Hội các bà mẹ thực hiện KHHGĐ cũng được thành lập, bao gồm các bà mẹ kiểu mẫu trong thực hiện KHHGĐ. Hoạt động chính của các thành viên của tổ chức này đó là thuyết phục những người còn ngần ngại, chưa thực hiện KHHGĐ. Các thành viên là những người chính tại địa phương thực hiện công tác giáo dục về các biện pháp tránh thai và phân phát viên uống tránh thai.

 Tổng kết tình hình thực hiện giai đoạn 1 đã rút ra 4 nguyên nhân thành công sau: a) Những người có trình độ văn hoá đã nhận biết được tầm quan trọng của KHHGĐ. Nói chung họ thường giữ vị trí lãnh đạo.Vì vậy, sự hỗ trợ của tầng lớp trí thức đóng một vai trò quan trọng trong việc phá bỏ những hàng rào tâm lý đối với công tác KHHGĐ; b) Người dân không gặp bất cứ một khó khăn gì trong việc tiếp cận với hệ thống y tế công. Khoảng cách từ nhà dân đến Trung tâm y tế cơ sở đủ gần để người dân địa phương có thể tiếp cận một cách dễ dàng với các dịch vụ KHHGĐ; c) Hàn Quốc chú trọng cách tiếp cận khoa học trong công tác KHHGĐ. Cuộc điều tra kết quả thực hiện KHHGĐ và các chương trình đào tạo cán bộ làm công tác KHHGĐ là những ví dụ điển hình; d) Tranh thủ hợp tác quốc tế mà chủ yếu là tiếp nhận các loại phương tiện tránh thai. Một số lượng lớn viên thuốc uống tránh thai đã được cung cấp miễn phí. Các tổ chức quốc tế đã hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các biện pháp lâm sàng.

 Giai đoạn hai (1970-1980)

 Trong những năm đầu của thập kỷ 70, mức giảm sinh của Hàn Quốc bắt đầu chậm lại. Chính phủ đã đưa thêm một số nội dung mới vào chương trình KHHGĐ, các chiến lược và chương trình KHHGĐ ngày càng đa dạng nhằm mục tiêu ổn định tỷ lệ tăng dân số hàng năm ở mức 1,5%. Các chiến lược KHHGĐ được xây dựng 12 trên hai nguyên tắc cơ bản: a) Sử dụng các cơ quan chính phủ hiện có. Chính quyền địa phương ban hành chính sách và chương trình KHHGĐ phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương; b) Đánh giá hiệu quả chương trình KHHGĐ bằng các phương pháp khoa học.

 Hợp tác giữa Chính phủ và khu vực tư nhân ngày càng bền chặt và khăng khít hơn. Để nâng cao hiệu quả của chương trình KHHGĐ, Chính phủ thành lập "Phòng quản lý sức khoẻ bà mẹ và trẻ em", thuộc Bộ Y tế và Các vấn đề xã hội. Năm 1971, Viện nghiên cứu KHHGĐ đã đi vào hoạt động. Đây là một tổ chức tư nhân hoạt động với mục tiêu thúc đẩy các chiến lược KHHGĐ. Chính phủ tập trung xây dựng mạng lưới bán lẻ thuốc tránh thai với giá thấp trên toàn quốc với 2 mục đích góp phần nâng cao hiểu biết của dân chúng về ngừa thai và khuyến khích thay đổi nhận thức và hành vi của khách hàng KHHGĐ: “Phương tiện tránh thai là một phần của cuộc sống thường ngày”. Cơ sở y tế công kết hợp giáo dục tuyên truyền với cung cấp dịch vụ KHHGĐ. Biện pháp triệt sản nam đã được giới thiệu trong chương trình quân dự bị địa phương, không chỉ góp phần giúp các đối tượng nhận thức được tầm quan trọng của KHHGĐ mà còn nhằm huy động nam giới tham gia chương trình.

 Giai đoạn ba (1981-1990)

 Đây là thời kỳ chuyển đổi cơ bản với những tiến bộ rõ rệt trong công tác KHHGĐ. Vào đầu những năm 1980, Chính phủ quân sự do Chung Đô Hoan đứng đầu lại tăng cường hỗ trợ cho Chương trình KHHGĐ với mục tiêu kiềm chế cuộc “bùng nổ dân số” lần thứ hai, kết quả của “sinh bù sau chiến tranh”, số trẻ em gái sinh ra khi đó bắt đầu bước vào độ tuổi sinh sản và tình trạng số sinh hàng năm tăng lên sẽ kéo dài đến hết thập kỷ 80. Chính phủ đã thông qua chương trình kiểm soát tăng trưởng dân số toàn diện và coi đó là một phần của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ V. Chương trình này nhằm: a) Đổi mới về giải pháp thực hiện và quản lý, b) Tăng cường các chính sách hỗ trợ xã hội hướng đến gia đình 1 con, c) Tạo sự chuyển biến trong thể chế và nhận thức của xã hội nhằm xoá bỏ tư tưởng trọng nam, d) Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về dân số và KHHGĐ, và d) Thành lập một hệ thống bảo trợ nhà nước nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong kiểm soát tăng trưởng dân số thông qua cơ chế phối kết hợp liên ngành trong chương trình KHHGĐ. Các biện pháp chính sách quan trọng được thông qua nhằm khuyến khích giảm mức sinh mạnh hơn.

B.T 

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC