Ngày 21 Tháng 11, 2013 | 02:58 PM

Chính sách Dân số của Trung Quốc

Chính sách Dân số của Trung Quốc

GiadinhNet - Sau cách mạng thành công năm 1949, Trung Quốc xem dân số lớn như là một tài sản quốc gia và đề ra kế hoạch (1958-1960) nhằm mục tiêu sử dụng dân số khổng lồ để chuyển tiếp nhanh chóng từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một xã hội cộng sản hiện đại.

Đồng thời, vẫn duy trì những luật lệ rất nghiêm khắc chống nạo phá thai và triệt sản. Khi nhận thấy sự phát triển kinh tế không theo kịp với nhịp độ tăng trưởng của quy mô dân số thì vấn đề dân số và KHHGĐ mới được đề cập một cách công khai ở Trung Quốc.
 
Chính sách giảm sinh
 
Tháng 8/1953, Hội đồng hành chính Nhà nước (Chính phủ) chỉ thị cho các cơ quan y tế cung cấp các biện pháp tránh thai theo yêu cầu và cho phép nạo phá thai. Tháng 8/1956, Bộ Y tế được giao nhiệm vụ kiểm soát sinh sản. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của phong trào "Đại nhảy vọt" nên công tác kiểm soát dân số, kiểm soát sinh sản bị coi là thứ yếu. Năm 2007, Trung Quốc thực hiện chính sách dân số đa chiều nhằm nới lỏng chính sách một con. Chính sách dân số đa chiều bao gồm 8 yếu tố: i) kiểm soát quy mô dân số; ii) giảm sinh; iii) làm chậm tốc độ tăng dân số; iv) giảm chết; v) đảm bảo sinh tốt hơn, nuôi con tốt hơn; vi) nâng cao chất lượng dân số; vii) mở rộng sản xuất hàng hóa KHHGĐ; viii) di dân theo kế hoạch phù hợp với tăng trưởng kinh tế. Chính sách kiểm soát quy mô dân số tuân theo nguyên tắc mỗi cặp vợ chồng chỉ được phép sinh 1 con, trừ những trường hợp được phê chuẩn ngoại lệ. Có 7 trường hợp ngoại lệ được sinh 2 con là: những cặp vợ chồng mà cả hai đều xuất thân từ gia đình 1 con thì được phép sinh 2 con, những cặp vợ chồng ở nông thôn mà một trong hai người xuất thân từ gia đình 1 con và có một con gái đầu lòng thì được phép sinh con thứ 2, những cặp vợ chồng có khó khăn thực sự về sức khỏe của con và họ có yêu cầu đẻ con thứ hai thì vẫn được chấp nhận, những cặp vợ chồng là người dân tộc thiểu số có quy mô dân số dưới 10 triệu người thì được sinh 2 con, không hạn chế số con đối với những cặp vợ chồng là người dân tộc thiểu số có quy mô dân số quá ít người và sống ở khu tự trị Tây Tạng, khu tự trị Nội Mông.
 
Chính sách giảm tử vong
 
Chính sách tác động tới giảm tỷ lệ tử vong bao gồm: tăng cường điều kiện thuận lợi về y tế; nâng cao tiêu chuẩn sống (trong những năm 1980, khoảng 3-4% GDP được chi cho công tác chăm sóc sức khỏe); phòng chống bệnh tật, kiểm dịch, kiểm soát vệ sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm, làm sạch nước uống cho 80% dân số nông thôn; rèn luyện thân thể và chăm sóc sức khỏe cộng đồng; tăng cường năng lực và áp dụng kỹ thuật hiện đại trong điều trị bệnh.
 
Chính sách di dân
 
Chính sách về di cư trong nước bao gồm di dân theo kế hoạch nhằm chuyển lao động tới các cơ sở công nghiệp, khai hoang, xây dựng các nguồn dự trữ cho sản xuất nông nghiệp. Chính sách đặc biệt quan tâm đến nhóm dân số lưu động, bao gồm các biện pháp nhằm mở rộng và đáp ứng nhu cầu và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, SKSS/KHHGĐ.
 
Chính sách nâng cao chất lượng dân số
 
Luật Hôn nhân năm 1980 quy định những trường hợp không được kết hôn nhằm bảo đảm chất lượng nòi giống và bảo đảm chất lượng của cuộc sống hôn nhân. Những trường hợp không được kết hôn bao gồm: Có quan hệ huyết tộc trong vòng 3 đời; một trong hai người đang bị mắc bệnh hủi, đang điều trị một căn bệnh nào đó mà không có kết quả hoặc mắc bệnh mà theo khoa học y tế gây đau đớn cho người bệnh, không phù hợp với hôn nhân. Đồng thời, Luật Hôn nhân quy định trẻ em có thể mang họ của cha hoặc họ của mẹ nhằm góp phần thay đổi nhận thức và hành vi về ưa chuộng con trai, về bình đẳng giới.
 
Kết quả thực hiện chính sách giảm sinh
 
Dân số Trung Quốc năm 1953 là 580 triệu người, đến năm 2003 là 1,29 tỷ người, tăng thêm 708 triệu người sau nửa thế kỷ. Báo cáo điều tra nghiên cứu về kết quả thực hiện Chiến lược phát triển dân số quốc gia lần thứ nhất đã xác định “chính sách KHHGĐ của Trung Quốc trong vòng 30 năm qua đã tránh được trên 400 triệu ca sinh (với các nước phát triển để hoàn thành mục tiêu này thì phải mất hơn 100 năm). Mặc dù vậy, đến năm 2010 quy mô dân số Trung Quốc là 1,36 tỷ người, lớn nhất thế giới và chiếm tới 21% dân số thế giới. Với diện tích tự nhiên là 9,6 triệu km2 thì mật độ dân số là 142 người/km2 năm 2010.
 
BT

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC