Ngày 29 Tháng 5, 2018 | 08:04 AM

Lào Cai tích cực đưa chủ trương của Đảng về công tác dân số vào cuộc sống

GiadinhNet - Trong những năm qua, công tác DS-KHHGĐ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn tỉnh giảm từ 3,61% (năm 1991) xuống còn 1,26% (năm 2017), số con trung bình của người phụ nữ (tổng tỷ suất sinh) hiện nay là 2,29 con, tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai được duy trì 70%.


Tuyên truyền kiến thức về DS-KHHGĐ tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Ảnh: Thanh Huệ

Tuyên truyền kiến thức về DS-KHHGĐ tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Ảnh: Thanh Huệ

Cụ thể hóa Nghị quyết 21-NQ/TW của Đảng

Công tác tuyên truyền vận động, nhận thức về DS-KHHGĐ của các cấp, các ngành và toàn xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, mô hình gia đình 2 con trở thành chuẩn mực, được đại đa số các gia đình hưởng ứng, thực hiện. Tuy nhiên, Lào Cai vẫn là tỉnh có mức sinh cao so với trung bình chung toàn quốc. Trên địa bàn tỉnh còn 5/9 huyện, thành phố có tỷ suất sinh thô còn trên 20‰ (Sa Pa, Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai và Bát Xát). Chất lượng dân số còn thấp, vẫn tồn tại tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống. Vì thế, công tác DS-KHHGĐ của tỉnh còn nhiều khó khăn thách thức, cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị.

Ngay sau khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “về công tác dân số trong tình hình mới” được ban hành, Lào Cai đã được quán triệt nội dung Nghị quyết tới từng cán bộ, đảng viên, hệ thống chính trị bằng Kế hoạch 130/KH-TU ngày 30/3/2018 của Tỉnh uỷ Lào Cai. Mục tiêu của Kế hoạch 130 là cụ thể hóa để thực hiện đầy đủ, toàn diện và đồng bộ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 21-NQ/TW. Bên cạnh đó, thực hiện Kế hoạch 130 còn nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, của cả hệ thống chính trị và nhân dân đối với công tác dân số trong tình hình mới; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước trong việc tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang Dân số và Phát triển; khắc phục những hạn chế, tồn tại trong công tác dân số thời gian qua, đảm bảo thực hiện đạt mục tiêu đề ra, góp phần phát triển tỉnh Lào Cai nhanh và bền vững.

Tỉnh uỷ Lào Cai cũng đặt ra mục tiêu chung là: Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện giảm sinh đạt và duy trì mức sinh thay thế; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển tỉnh Lào Cai nhanh, bền vững.

Triển khai 6 mục tiêu và 7 nhóm giải pháp

Kế hoạch 130/KH-TU của Tỉnh ủy Lào Cai đã đưa ra 6 nhóm mục tiêu cụ thể đến năm 2030.

Thứ nhất: Thực hiện đạt và duy trì mức sinh thay thế, có quy mô dân số khoảng: 830.000 người; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,2%; số con trung bình của một bà mẹ (TFR) 2,1 con; bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc có dưới 10.000 người, đặc biệt là những dân tộc có rất ít người trên địa bàn tỉnh (Bố Y, Lô Lô, Phù Lá)...

Thứ hai: Đảm bảo cơ cấu dân số hợp lý: Tỷ số giới tính khi sinh: 109 trẻ trai/100 trẻ gái; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi khoảng 22%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên khoảng 11%; tỷ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%.

Thứ ba: Thực hiện dự phòng 3 cấp nhằm nâng cao chất lượng dân số: Tỷ lệ khám, tư vấn sức khỏe trước kết hôn 70%; giảm 50% số cặp tảo hôn, giảm 60% số cặp kết hôn cận huyết thống so với hiện nay; tỷ lệ phụ nữ mang thai được tầm soát 4 bệnh bẩm sinh phổ biến 60%; tỷ lệ trẻ sơ sinh được tầm soát 5 loại bệnh bẩm sinh phổ biến 80%.

Thứ tư: Chỉ số phát triển con người (HDI) bằng mức trung bình toàn quốc, trong đó: Tuổi thọ bình quân đạt 73 tuổi, thời gian sống khỏe mạnh 66 năm; 80% người cao tuổi được quản lý và khám sức khỏe định kỳ tại cộng đồng; chiều cao trung bình thanh niên 18 tuổi đối với nam đạt 166,5cm, đối với nữ: 157,5cm;

Thứ năm: Bố trí, sắp xếp dân cư hợp lý ở vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn; tỷ lệ dân số sống ở đô thị đạt trên 30%; bảo đảm người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản.

Thứ sáu: 100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống dữ liệu dân cư toàn quốc.

Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đưa ra 7 nhóm nhiệm vụ và các giải pháp. Trong đó, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy về công tác dân số. Bên cạnh đó, cần đổi mới nội dung tuyên truyền, vận động về công tác dân số; thực hiện tốt chiến lược, chính sách, pháp luật về dân số trong tình hình mới; phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ dân số; bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số: Bảo đảm đủ nguồn lực đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số. Ưu tiên bố trí ngân sách Nhà nước cho công tác dân số, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, văn hoá, thể thao... nhằm nâng cao chất lượng dân số, đời sống mọi mặt của nhân dân, nhất là đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới; kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân số; tăng cường hợp tác quốc tế.

Để thực hiện đồng bộ 7 nhóm giải pháp cần sự vào cuộc cả hệ thống chính trị và sự hưởng ứng của mọi người dân trong hành vi dân số, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên phương thức về tầm quan trọng của công tác dân số.

Quế Phương

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC