Ngày 1 Tháng 4, 2021 | 07:00 AM

Trang bị kỹ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên

  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Sức khỏe sinh sản (SKSS) vị thành niên, thanh niên (VTN, TN) là một trong những yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số. Những năm qua, Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Hòa Bình phối hợp với các ngành chức năng chú trọng triển khai công tác chăm sóc SKSS cho VTN, TN, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Trang bị kỹ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên - Ảnh 1.

Hoạt động truyền thông về sức khỏe sinh sản trong trường học được ngành Dân số Hòa Bình phối hợp với Sở GD&ĐT quan tâm thực hiện. Ảnh: TL

Tình trạng tảo hôn có xu hướng gia tăng

Theo thống kê của Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Hòa Bình, giai đoạn 2015 - 2020, công tác chăm sóc SKSS, sức khỏe tình dục (SKTD) cho VTN, TN đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ.

Tỷ suất sinh ở nữ VTN (15-19 tuổi) giảm đáng kể, từ 31 ca sinh/1.000 phụ nữ (năm 2016) còn 24 ca sinh/1.000 phụ nữ (năm 2019). Tỷ lệ VTN mang thai/tổng số phụ nữ có thai là 2,1%. Tuổi trung bình lần quan hệ tình dục (QHTD) đầu tiên của VTN ở nhóm tuổi 14-24 là 18,7%. VTN có QHTD trước hôn nhân là 15%. VTN, TN chưa có kiến thức đầy đủ và thực hành chưa đúng về các vấn đề SKTD, tỷ lệ không sử dụng biện pháp tránh thai là 28%.

Tình trạng tảo hôn có xu hướng tăng, đa số VTN mang thai, tảo hôn ở tuổi từ 15 trở lên. Tuổi tảo hôn thấp nhất là 13 tuổi, có trường hợp cả cặp vợ chồng trong độ tuổi tảo hôn, có trường hợp chỉ có vợ trong độ tuổi tảo hôn, tảo hôn nữ nhiều hơn tảo hôn nam. Tình trạng tảo hôn có ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Trong tổng số nữ trong độ tuổi từ 15-24, có 18/1.000 người đã từng phá thai (chiếm 9,2% trong tổng số những người đã từng có thai). Tỷ lệ phá thai đặc biệt cao hơn ở nhóm nữ trong độ tuổi từ 19 - 24, dân tộc thiểu số và nữ đã từng kết hôn so với nhóm nữ trong độ tuổi từ 15-18.

Bà Nguyễn Thị Minh Phương, Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh cho biết: Trẻ VTN là lứa tuổi có nhiều thay đổi về tâm sinh lý nên rất cần được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để các em bước vào giai đoạn trưởng thành. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các vấn đề như: QHTD sớm, QHTD không an toàn, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai… là do các em thiếu hiểu biết về giới tính, tình dục, thiếu kỹ năng cần thiết để tự bảo vệ mình.

Gỡ bỏ rào cản, tăng cường công tác truyền thông

Để giúp trẻ VTN trang bị những kiến thức về SKSS, những năm qua, Chi cục DS-KHHGĐ Hòa Bình đã phối hợp với các ngành, đoàn thể tổ chức nhiều hoạt động như: Tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, tư vấn chăm sóc SKSS/ KHHGĐ cho VTN, TN, truyền thông với hình thức sân khấu hóa… nhằm cung cấp thông tin, kiến thức về giới tính, SKSS cho trẻ VTN, TN. Qua đó, góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng, giảm tình trạng mang thai, nạo thai ngoài ý muốn ở lứa tuổi VTN, TN.

Đặc biệt, Chi cục DS-KHHGĐ phối hợp với ngành Giáo dục tăng cường cung cấp thông tin, kiến thức về giới tính, bình đẳng giới, mất cân bằng giới tính khi sinh, SKSS, SKTD toàn diện cho VTN, TN thông qua hoạt động ngoại khóa trong trường học…

Bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền trong trường học, ngành Dân số tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền ngoài cộng đồng; tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân; tuyên truyền cho thanh niên chuẩn bị kết hôn tại các xã, phường, thị trấn về SKSS/KHHGĐ; xã hội hóa các phương tiện tránh thai... Các mô hình, câu lạc bộ trở thành kênh thông tin hữu ích, làm thay đổi nhận thức của đại đa số thanh niên và người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Đây còn là nơi cung cấp thông tin giúp các bậc cha mẹ định hướng đúng cho con em mình; tác động mạnh đến nhận thức, ý thức trách nhiệm của người dân trong công tác DS-KHHGĐ.

Bà Nguyễn Thị Minh Phương cho biết, mặc dù có sự vào cuộc của ngành chức năng và các tổ chức xã hội liên quan, nhưng việc cung cấp kiến thức về chăm sóc SKSS cho lứa tuổi VTN, TN trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế.

Thực trạng trên có nguyên nhân một phần do chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD thân thiện không đồng đều, các can thiệp mới dừng ở quy mô thí điểm, mô hình chưa được nhân rộng, chưa lồng ghép, kết hợp với các hoạt động thường quy ở địa bàn can thiệp. Các hoạt động truyền thông cung cấp thông tin, tư vấn về SKSS, SKTD cho VTN, TN tại nhà trường đã được thực hiện, nhưng tổ chức rời rạc, thiếu tính đồng bộ, quy mô. Việc cung cấp thông tin, dịch vụ về SKSS, SKTD cho các nhóm đối tượng còn nhiều khó khăn. Những rào cản về văn hóa - xã hội vẫn là thách thức lớn trong cung cấp, sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN. Định kiến về SKSS, SKTD của cả cha mẹ, giáo viên, nhân viên y tế và cộng đồng; cách nhìn phiến diện về SKSS, SKTD tuổi VTN, TN trong xã hội đã, đang ảnh hưởng đến tư tưởng, quan niệm của chính trẻ VTN, TN, gây cản trở không nhỏ đến việc tiếp cận, sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD của trẻ VTN, TN.

Do đó, để khắc phục tình trạng trên, theo bà Minh Phương rất cần sự quan tâm của các cấp, các ngành, nhà trường, đặc biệt là các bậc phụ huynh để việc giáo dục giới tính, SKSS được triển khai hiệu quả, kịp thời nhằm trang bị cho các em những kỹ năng đầu đời và khả năng xử lý tình huống, giúp trẻ trưởng thành lành mạnh, hướng tới một tươi lai tươi sáng.

Minh Phương

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC