Ngày 7 Tháng 12, 2017 | 01:00 PM

Thực hiện Nghị quyết TRUNG ƯƠNG 6, khóa XII: Đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo nhân lực y tế

GiadinhNet - Một trong những giải pháp quan trọng để tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới được nêu trong Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII (Nghị quyết số 20 - NQ/TW) là: Đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo nhân lực y tế…


Khám sức khỏe cho bệnh nhi ở Bệnh viện Đa khoa thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên. Ảnh: V.Thu

Khám sức khỏe cho bệnh nhi ở Bệnh viện Đa khoa thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên. Ảnh: V.Thu

Sự quan tâm của Đảng, Chính phủ đối với đào tạo nhân lực y tế

Trong công tác chăm sóc sức khỏe, vấn đề nhân lực đóng vai trò quan trọng vì phục vụ trực tiếp cho con người, liên quan mật thiết đến sinh mạng con người. Do vậy, vấn đề đạo đức nghề nghiệp và tính chuyên nghiệp cao trong hoạt động là không thể tách rời.

Ở Việt Nam, đào tạo nhân lực y tế đã được đặc biệt chú trọng trong những năm gần đây thông qua việc đa dạng hóa các hình thức đào tạo, cùng với đào tạo chính quy còn có nhiều hình thức đào tạo khác như: Cử tuyển, liên thông, đào tạo theo địa chỉ… với sự tham gia ngày càng nhiều của các cơ sở đào tạo công lập và ngoài công lập. Nhờ vậy mà chỉ số bác sĩ/một vạn dân ở nước ta trong thời gian qua đã được cải thiện rõ rệt.

Trong bài giới thiệu, quán triệt về Nghị quyết số 20 vừa qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, một trong những điểm đáng mừng của y tế Việt Nam, là nhân lực y tế phát triển mạnh, số lượng tăng từ 200.000 (năm 1993) lên 465.000 người vào năm 2016. Đến nay, 87,5% số xã đã có bác sĩ, 96% thôn, bản có nhân viên y tế. Tỷ lệ bác sĩ trên một vạn dân tăng từ 4,1% (năm 1993) lên trên 8% vào năm 2016. Một số bác sĩ, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, có uy tín trong khu vực và thế giới. Trong Nghị quyết số 20, Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu tới năm 2025, con số này tăng lên 10 bác sĩ và năm 2030 đạt 11 bác sĩ.

Bên cạnh những kết quả về tăng trưởng nhanh số lượng cán bộ y tế, vấn đề bảo đảm chất lượng cũng ngày càng được Đảng, Chính phủ và toàn xã hội quan tâm. Hiện nay, theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, việc cấp giấy phép hành nghề cho cán bộ y tế dựa trên hồ sơ theo kết quả thi tốt nghiệp do các cơ sở đào tạo thực hiện. Trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách quan trọng liên quan đến giáo dục, đào tạo, trong đó có đào tạo y khoa của Đảng và Chính phủ đã được ban hành. Ngày 20/6/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2017/NĐ-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế, trong đó có nhiệm vụ “Quy định, hướng dẫn tổ chức thực hiện việc thi để xét cấp chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực y tế theo quy định của pháp luật”. Tiếp đến, ngày 5/10/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 111/2017/NĐ-CP về Quy định tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe, trong đó xác định rõ nguyên tắc bảo đảm an toàn cho người sử dụng dịch vụ y tế… Mới đây nhất, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 cũng đã nêu rõ các giải pháp: Đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo nhân lực y tế, đáp ứng yêu cầu cả về y đức và chuyên môn trong điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; thành lập hội đồng y khoa quốc gia; tổ chức thi cấp chứng chỉ hành nghề có thời hạn phù hợp với thông lệ quốc tế…

Ðẩy mạnh nghiên cứu dự báo nhu cầu nhân lực

Để thực hiện được giải pháp nêu trong Nghị quyết số 20, theo GS.TS Phạm Mạnh Hùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, cần có những giải pháp xây dựng và quản lý nhân lực y tế.

Theo đó, việc xác định nhu cầu các loại hình và số lượng cũng như chất lượng của mỗi loại hình nhân lực đi trước 5 - 10 năm là một việc làm cần thiết, vì cán bộ không sẵn có mà cần thời gian đào tạo. GS.TS Phạm Mạnh Hùng nêu ví dụ: Muốn đào tạo trình độ bác sĩ đa khoa phải có thời gian 6 năm, nhưng để đủ điều kiện hành nghề chữa bệnh thì phải học thêm ít nhất 3 năm. Tức là đào tạo người có đủ điều kiện hành nghề Y ít nhất cũng phải mất 9 năm. Tuy nhiên, lâu nay công tác dự báo nhu cầu nhân lực y tế hầu như không được chú ý, vì vậy kế hoạch đào tạo diễn ra thường không phù hợp, không đáp ứng đúng với yêu cầu của thực tiễn.

GS.TS Phạm Mạnh Hùng cho rằng, việc dự báo sự phát triển của công tác chăm sóc sức khỏe là một bộ phận không thể thiếu trong quản lý nhà nước về y tế, trong đó dự báo về nhân lực y tế có tầm quan trọng đặc biệt ở chỗ: Dự báo nhu cầu nhân lực sẽ là căn cứ để hoạch định kế hoạch đào tạo cho thời gian trước mắt. Muốn dự báo được nhu cầu nhân lực, cần lập cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân lực của ngành qua các thời kỳ, rồi dựa trên xu thế phát triển (trong đó có cả xu thế phát triển xã hội và xu thế phát triển khoa học công nghệ) có kết hợp với phương pháp ngoại suy.

Đặc biệt, theo GS.TS Phạm Mạnh Hùng, bên cạnh đào tạo bác sĩ, cần chú trọng nhiều loại chức danh khác (ở Hoa Kỳ có đến 50 loại chức danh khác nhau trong hệ thống cán bộ y tế, trong đó hai loại chức danh có số lượng đông đảo nhất là điều dưỡng và trợ thủ y khoa). Ngoài việc dự báo nhu cầu nhân lực y tế, cần xác định cơ cấu phù hợp của các loại chức danh, phương thức đào tạo các chức danh. Việc làm này một mặt tiết kiệm nhân lực, mặt khác sử dụng có hiệu quả các loại chức danh nhân lực đó. GS.TS Phạm Mạnh Hùng nêu ý kiến: “Cũng cần lưu ý rằng, không có một tỷ lệ duy nhất giữa các loại chức danh cán bộ y tế áp dụng cho tất cả cơ sở y tế ở mọi nơi và mọi cấp. Ðiều này đòi hỏi việc nghiên cứu và nâng cấp chức danh một cách phù hợp với từng cấp bệnh viện (loại 1, loại 2 hay loại 3)”.

Đào tạo nhân lực y tế, theo GS.TS Phạm Mạnh Hùng, rất cần thiết chú trọng việc giáo dục đạo đức, tập trung vào việc phải giáo dục mọi cán bộ biết đặt quyền lợi, sức khỏe và tính mạng của người bệnh lên trên quyền lợi của bản thân cán bộ y tế và tập trung nâng cao tính chuyên nghiệp trong mọi hoạt động y tế.

Thu Nguyên

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC