Ngày 30 Tháng 11, 2015 | 10:59 AM

Hết cảnh xuyên màn đêm vượt hơn 300km về Thủ đô cấp cứu

  MỚI NHẤT

GiadinhNet – Thay vì phải ở lại viện lâu, hoặc phải gấp rút về Hà Nội cấp cứu trong đêm, nhờ được chuyển giao kỹ thuật y khoa hiện đại, hàng nghìn bệnh nhân là người dân tộc thiểu số có thể yên tâm ở lại quê nhà điều trị.

Tại Hội nghị sơ kết công tác đào tạo, chuyển giao kỹ thuật thuộc Đề án Bệnh viện vệ tinh chuyên ngành ngoại chấn thương giai đoạn 2013-2015 vừa được Bộ Y tế tổ chức, BS Hoàng Văn Hiếu, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh Lào Cai chia sẻ: Sỏi hệ tiết niệu tại Việt Nam là một bệnh lý đứng hàng đầu trong số các bệnh lý của hệ tiết niệu, đặc biệt đối với vùng cao do bà con uống nước từ núi đá vôi. Trước đây, tại BVĐK tỉnh Lào Cai, khi gặp bệnh nhân bị sỏi hệ tiết niệu, các bác sĩ sẽ phải mổ một đường rất lớn để gắp viên sỏi chỉ khoảng 1mm ra.


Các bác sĩ BVĐK tỉnh Lào Cai đã thành thục trong kỹ thuật tán sỏi niệu quản qua nội soi ngược dòng bằng laser

Các bác sĩ BVĐK tỉnh Lào Cai đã thành thục trong kỹ thuật tán sỏi niệu quản qua nội soi ngược dòng bằng laser

Nhưng nay, bằng kỹ thuật tán sỏi niệu quản qua nội soi ngược dòng bằng laser – một phương pháp hiện đại có thể tán được tất cả các loại sỏi, kể cả những viên sỏi có kích thước lớn mà không gây tổn thương niệu quản, viên sỏi trong hệ tiết niệu sẽ được “xử lý” gọn gàng chỉ với 15 phút trong phòng mổ. Chỉ 1 đến 2 ngày sau, bệnh nhân đã được ra viện, thay vì nằm viện điều trị hàng tuần như trước đây.

Đây là một trong 12 gói kỹ thuật mà BVĐK tỉnh Lào Cai được tiếp nhận từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Hà Nội) qua Đề án Bệnh viện vệ tinh chuyên ngành ngoại chấn thương, giai đoạn 2013-2015.

BS Hiếu cũng chia sẻ, đây là kỹ thuật các bác sĩ BVĐK tỉnh tự tin nhất. Sau 1 năm thực hiện thành thạo, đã có hơn 200 ca bệnh được tán sỏi, không để lại di chứng, tai biến. Đó là sự thay đổi ngoạn mục, đáng tự hào. Tỷ lệ chuyển tuyến trên chỉ còn 0%.

Một kỹ thuật khác được các bác sĩ tại BVĐK tỉnh Lào Cai thực hiện thành thạo, giảm tối đa bệnh nhân chuyển tuyến Trung ương, đó là phẫu thuật chấn thương, vết thương mạch máu ngoại vi, mổ máu tụ trong não.

Theo GS.TS Trần Bình Giang, Phó Giám đốc BV Hữu nghị Việt Đức, trước đây, các bác sĩ BV Việt Đức đã phải cắt cụt chi không ít bệnh nhân chuyển đến từ bệnh viện tuyến dưới do kỹ thuật phẫu thuật chấn thương, vết thương mạch máu ngoại vi chưa phát triển, trang thiết bị chưa đáp ứng được.

Đến nay, sau khi đi được BV Việt Đức chuyển giao kỹ thuật, BV được trang bị các dụng cụ, thiết bị tốt hơn, không chỉ BVĐK tỉnh Lào Cai mà 6 BVĐK tỉnh khác là Hà Giang, Điện Biên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Ninh Bình, tỷ lệ thành công trong các kỹ thuật này cũng rất cao.

“Điều này chứng tỏ, những kỹ thuật tinh tế, phức tạp, nếu được đầu tư đào tạo bài bản thì các bác sĩ tại BV vùng cao, vùng xa có thể làm được. Hàng nghìn bệnh nhân là bà con dân tộc thiểu số sẽ không phải vượt hơn 300-400km xuyên màn đêm để về Thủ đô cấp cứu. BV Việt Đức vì thế cũng giảm tải đi rất nhiều” – GS.TS Trần Bình Giang xúc động nói.

Theo chia sẻ của BS Hoàng Văn Hiếu, trước năm 2013, khi bệnh nhân bị vỡ tạng (gan, lách, thận…), các bác sĩ BVĐK tỉnh Lào Cai chỉ biết cách mổ ngay trong khi nguy cơ biến chứng rất cao. Sau khi được đào tạo kỹ thuật điều trị bảo tồn chấn thương tạng đặc, BV đã chủ động điều trị nội khoa, hạn chế mổ cho bệnh nhân. Tỷ lệ mổ giảm, song song với tỷ lệ chuyển tuyến chỉ còn 5%.

Các kỹ thuật mổ máu tụ trong não, cầm máu trong xuất huyết dạ dày hay làm cầu tay cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo cũng được các bác sĩ tại đây thực hiện thành thạo, giúp rất nhiều bệnh nhân bị suy thận không phải lên tuyến trên làm cầu tay, qua đó, tiết kiệm thời gian, tài chính, công sức bệnh nhân.

Cũng theo BS Hiếu, điều quan trọng nhất của Đề án Bệnh viện vệ tinh, đó là không chỉ đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên, điều dưỡng trong BV tự tin trong phẫu thuật, chăm sóc bệnh nhân, mà còn củng cố niềm tin, sự yên tâm của người dân tỉnh Lào Cai và các tỉnh lân cận vào trình độ của y tế tỉnh nhà, hạn chế tình trạng bệnh nhân sang nước ngoài chữa trị.

Theo GS.TS Trần Bình Giang, chính nhờ Đề án Bệnh viện vệ tinh chuyên ngành ngoại chấn thương, chuyển giao hàng chục gói kỹ thuật tại 7 BV vệ tinh thời gian qua, góp phần rất lớn vào việc giảm tải bệnh nhân tại BV Việt Đức.

Trong giai đoạn tới, để kết quả 12 kỹ thuật chuyển giao giai đoạn 2013-2015 thực sự bền vững, không để việc chuyển giao chỉ là “phong trào”, BV Việt Đức sẽ tiếp tục tổ chức hội chẩn từ xa, đào tạo từ xa, tổ chức các hội nghị chuyên ngành qua hệ thống telemedicine.

Trên cơ sở nền tảng chuyển giao kỹ thuật cũ, cũng như đội ngũ điều dưỡng, kỹ thuật viên đã được đào tạo bài bản tại các BV vệ tinh, BV Việt Đức sẽ tiếp tục chuyển giao những kỹ thuật mới theo đề xuất của địa phương, theo định hướng các bệnh viện vệ tinh phải đảm bảo thực hiện tốt các gói kỹ thuật cơ bản, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của cộng đồng.

Thu Nguyên/Báo Gia đình & Xã hội

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC