Ngày 25 Tháng 12, 2015 | 11:16 AM

Đầu tư hơn nữa cho công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản

  MỚI NHẤT

GiadinhNet – Nếu được triển khai, Dự án sẽ thực hiện các can thiệp hiệu quả, toàn diện tới các nội dung của công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), phối hợp đồng bộ từ trung ương đến địa phương nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra, góp phần đảm bảo công bằng xã hội thông qua giảm sự chênh lệch giữa các vùng miền, từng bước thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Những con số đáng khích lệ

Theo báo cáo của Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em (Bộ Y tế), sau 5 năm thực hiện Dự án Chăm sóc sức khỏe sinh sản (2011-2015) đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ. Cụ thể, tỷ suất tử vong trẻ em (TVTE) dưới 1 tuổi năm 2009 là 16‰, đến năm 2014 giảm xuống còn 14,9‰ (đạt tiến độ đề ra và có thể đạt được mục tiêu giảm xuống còn 14,8 ‰ vào năm 2015).

Về tỷ suất tử vong mẹ (TVM), năm 2009, tỷ số này là 69/100.000 trẻ đẻ sống. Mục tiêu thiên niên kỷ mà ta cam kết là giảm tỷ suất TVM xuống còn 58,3/100.000 trẻ đẻ sống. Tuy không có số liệu về TVM các năm 2009 - 2014 nhưng qua công tác thẩm định TVM cho thấy tỷ suất đã có xu hướng giảm đáng kể. Ước tính tỷ suất TVM năm 2014 sẽ là 60/100.000 trẻ đẻ sống, đạt tiến độ đề ra. Như vậy, qua 5 năm thực hiện Dự án Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011-2015, TVM đã gần tiệm cận với mục tiêu đề ra.

Vẫn còn nhiều hạn chế

Mặc dù đã giảm mạnh nhưng tại Việt Nam vẫn còn khoảng 30.000 trẻ dưới 5 tuổi, 22.000 trẻ dưới 1 tuổi và 17.000 trẻ sơ sinh tử vong hàng năm. So với các nước trong khu vực, tỷ suất tử vong trẻ em ở nước ta còn cao hơn so với một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore…

Tỷ suất TVM khu vực nông thôn cao gấp 3 lần khu vực thành thị, tương tự tỷ suất TVTE khu vực nông thôn cao gấp 2 lần so với thành thị. Bên cạnh đó, mỗi năm Việt Nam có khoảng 800 bà mẹ chết do các nguyên nhân liên quan đến thai sản.


Mô hình Cô đỡ thôn bản nếu được nhân rộng sẽ góp phần giảm thiểu đáng kể tử vong mẹ và tử vong sơ sinh tại những vùng khó khăn trên cả nước. Ảnh: N.Mai

Mô hình Cô đỡ thôn bản nếu được nhân rộng sẽ góp phần giảm thiểu đáng kể tử vong mẹ và tử vong sơ sinh tại những vùng khó khăn trên cả nước. Ảnh: N.Mai

Các chỉ số về phòng ngừa và điều trị vô sinh, chăm sóc SKSS vị thành niên, giảm phá thai và phá thai an toàn, phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh sản, chăm sóc SKSS cho nhóm đặc thù như dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người có HIV, người di cư và một số dân tộc có nguy cơ suy thoái… còn thiếu số liệu đánh giá và chưa được đầu tư thỏa đáng.

Hơn nữa, do nguồn kinh phí hoạt động “eo hẹp”, mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS còn nhiều hạn chế cả về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và năng lực cung cấp dịch vụ, đặc biệt là ở tuyến huyện và tuyến xã.

Ví dụ, hiện nay trên cả nước có khoảng 6.000 thôn bản vùng đặc biệt khó khăn, có tỷ lệ đẻ tại nhà cao và cần có cô đỡ thôn bản, tuy nhiên, hiện mới chỉ có 1.545 cô đỡ thôn bản đã được đào tạo đang hoạt động.

Việc thực hiện các kỹ thuật mổ đẻ và truyền máu tại các vùng khó khăn còn nhiều hạn chế. Trong số 225 huyện khó khăn về địa lý thì hiện mới chỉ có 151 bệnh viện có hai dịch vụ này. Đặc biệt, trong số 62 huyện nghèo, chỉ có 39 bệnh viện thực hiện được mổ đẻ và truyền máu.

Ngoài ra, trong số 305 bệnh viện đa khoa huyện có lồng ấp sơ sinh chỉ có 160 bệnh viện có nuôi trẻ sơ sinh bằng lồng ấp. Như vậy, có tới gần 50% bệnh viện đa khoa có lồng ấp nhưng không sử dụng với lý do chính là cán bộ chưa được đào tạo kỹ năng sử dụng lồng ấp để nuôi dưỡng trẻ sơ sinh nhẹ cân, non tháng.

Cần được quan tâm đầu tư

ThS. BS Đinh Anh Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em (Bộ Y tế) cho biết: Để duy trì các thành quả của các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về sức khỏe BM - TE, đồng thời hoàn thành các mục tiêu chưa đạt được và tiến tới hoàn thành các Mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam cùng với cộng đồng quốc tế đang xây dựng, công tác chăm sóc SKSS cần tiếp tục được đầu tư hơn nữa.


Lớp học ngoại khóa nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên được tổ chức tại Đà Nẵng. Ảnh N.Mai

Lớp học ngoại khóa nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên được tổ chức tại Đà Nẵng. Ảnh N.Mai

Để giải quyết các hạn chế trong công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em, trong giai đoạn 2016 - 2020, Bộ Y tế đang đề xuất tiến hành Dự án Chăm sóc sức khỏe sinh sản (thuộc Chương trình MTQG về y tế giai đoạn 2016-2020). Các mục tiêu cụ thể của Dự án gồm: tăng cường sự tiếp cận của người dân và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trẻ em, giảm tỷ suất TVTE dưới 5 tuổi xuống còn 16‰ , dưới 1 tuổi còn 11‰, giảm 30% hiệu số chênh lệch giữa đồng bằng về tỷ suất TVTE.

Bên cạnh đó, phấn đấu giảm tỷ suất TVM xuống còn 52/100.000 sơ sinh sống trên toàn quốc, đồng thời giảm 20% hiệu số chênh lệch giữa miền núi và đồng bằng về tỷ số TVM. 

Ngoài ra, tiếp tục giảm mạnh tình trạng phá thai và cơ bản loại trừ tình trạng phá thai không an toàn; cải thiện chăm sóc SKSS cho các nhóm vị thành niên và thanh niên. Giảm 20% tỷ lệ nữ mang thai ở độ tuổi vị thành niên so với hiện tại.

Như vậy, để thực hiện thành công được các mục tiêu của Chiến lược Dân số và chăm sóc SKSS Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, đồng thời duy trì thành quả đã đạt được của Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, trong giai đoạn tới 2016 - 2020, cần tiếp tục duy trì sự đầu tư của Chính phủ cho công tác chăm sóc SKSS thông qua Dự án Mục tiêu quốc gia về chăm sóc SKSS.

Nếu được triển khai, Dự án sẽ thực hiện các can thiệp hiệu quả, toàn diện tới các nội dung của công tác CSSKSS, phối hợp đồng bộ từ trung ương đến địa phương nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra, góp phần đảm bảo công bằng xã hội thông qua giảm sự chênh lệch giữa các vùng miền, từng bước thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Mai Thùy/Báo Gia đình & Xã hội

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC