Thứ Năm, 18/09/2008 14:16 (GMT+7)

Dấu hiệu đau đầu do căn nguyên u não

Các nhà phẫu thuật sọ não thường hay phàn nàn về nhiều trường hợp u não đưa đến quá muộn, xử trí khó khăn và để lại hậu quả nặng nề cho người bệnh. Vậy làm thế nào để phát hiện được những "dấu hiệu báo động" ban đầu của u não, một căn bệnh đáng sợ?



Đau đầu - phản xạ nhạy cảm của cơ thể

Đau đầu là triệu chứng mang tính chủ quan, phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý, tính cách và trình độ hiểu biết riêng của từng người bệnh. Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về những đặc điểm đau đầu của từng loại u não để từ đó thầy thuốc và ngay bản thân người bệnh có thể ban đầu định hướng được phương cách giải quyết. Có thể nói những đặc điểm của loại đau đầu này được coi như là những "tín hiệu mang ý nghĩa dự báo" rất hữu ích, từ đó dẫn tới những chỉ định của các nhà thần kinh học về sử dụng kỹ thuật chẩn đoán hiện đại (chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ và những xét nghiệm cần thiết khác) hay quyết định những phương cách can thiệp loại trừ khối u trong hộp sọ (quang tuyến liệu pháp, phẫu thuật sọ não...).

Những triệu chứng chung của đau đầu do u não là gì?

Bất kể vị trí u ở khu vực nào trong não, đau đầu cũng đều mang những tính chất chung như xuất hiện dội lên thời gian gần đây, dùng thuốc giảm đau thông thường không có hiệu quả; cường độ và thời khoảng đau đầu dần càng tăng; tính chất đau đầu: nhức nhối, đau tức, không đau nhói theo mạch nẩy; đau tăng lên bởi một số yếu tố cơ học (gắng sức thể lực, ho, rặn, đại tiện...), thay đổi tư thế đầu đột ngột, đau tăng khi đứng hơn là nằm.

Thời gian đau: lúc đầu thường phần lớn xảy ra vào những giờ sáng sớm, sau này có thể đau cả về đêm. Thức giấc dậy, bệnh nhân đau đầu kéo dài vài phút hoặc vài giờ, sau đó dịu dần. Khi áp lực nội sọ đã tăng, ở giai đoạn muộn hơn, đau đầu có thể tăng nhanh dần, xuất hiện đột ngột, trở nên trầm trọng, rồi nhanh chóng đau tới mức độ dữ dội nhất, sau đó mấy phút lại hết đau, có tính chất từng hồi.

Trong thời gian đau cực điểm, có thể xuất hiện rối loạn tâm thần (lú lẫn, hành động không tự chủ được, nói linh tinh...). Thoát vị hạnh nhân não có thể xảy ra, biểu hiện lâm sàng bằng triệu chứng co cứng mạnh ở vùng cổ gáy. Định khu đau đầu, nói chung thường cố định ở khu vực tồn tại khối u. Chỉ có trường hợp khối u nằm ở vùng giữa hai bán cầu hay ở một vị trí đặc biệt thì khu trú đau đầu có thể ở cả hai bên, nhưng trội ở một bên hoặc có khi ở bên đối diện với khối u. Ở giai đoạn muộn, khi đã xuất hiện hội chứng tăng áp nội sọ thì đau đầu dần lan toả ra toàn bộ đầu.

Đau đầu liên quan đến vị trí khối u như thế nào?

- U dưới lều tiểu não (u hố sọ sau) thường rất hay sinh ra đau đầu. Đau trội rõ ở trong gáy, thường hay khu trú ở bên có tổn thương và kèm theo co cứng các cơ ở gáy cùng bên, làm cho gáy phải giữ "tư thế bất tiện". Chứng đau đầu này thường hay đau tăng trội lên vào buổi sáng, luôn kèm theo nôn và chóng mặt, là những dấu hiệu định hướng quan trọng cho chẩn đoán. Khám đáy mắt, có thể thấy một yếu tố chẩn đoán quan trọng; ứ phù đĩa thị do có tăng áp nội sọ sớm. Chụp động mạch sống nền, thường có hình ảnh các mạch máu bị đẩy gián tiếp.

- U bán cầu tiểu não biểu hiện bằng những triệu chứng khu trú tiểu não và nôn. Muộn hơn, khi u phát triển, di lệch chèn vào những cấu trúc ở khu vực giữa hai bán cầu thì các biểu hiện lâm sàng sẽ giống như những u đường giữa, gây nên những triệu chứng nghẽn tắc đường lưu thông dịch não - tủy.

- U thùy gian của tiểu não là loại u đường chính giữa, thường có triệu chứng cả hai bên, khi u phát triển to thì thường đè vào não thất số IV.

- U não thất IV cũng thuộc loại u đường chính giữa, có thể gây ra nôn nhiều do vị trí u gần trung tâm nôn (nhân của dây thần kinh số X). Các u não thất IV cỡ lớn hầu như đều gây cứng gáy và co rút đầu theo một tư thế cố định (nghiêng phải, nghiêng trái, cúi đầu xuống, ngửa đầu ra sau, buộc bệnh nhân phải nằm một chiều), nhưng thường không gây đau đầu. Đau đầu chỉ xảy ra trong hội chứng Brun với biểu hiện các triệu chứng: khi người bệnh đang nằm mà ngồi dậy thì xuất hiện cơn chóng mặt đột ngột kèm theo đau đầu, nôn mửa, khó thở, có khi ngất đi.

- U thân não, thường là u hành tủy hoặc cầu não Varole, không có hội chứng tăng áp nội sọ, chỉ tê liệt nửa người bên đối diện, thương tổn nhiều nhân dây thần kinh sọ não và thường không gây đau đầu.

- U lỗ chẩm có triệu chứng đau đầu nổi bật khu trú ở phía sau đầu và cổ kéo dài hàng tháng, hàng năm. Đau đầu dữ dội, trội lên khi gắng sức như ho, hắt hơi hay những gắng sức tương tự. Những u này có thể gây nên tắc nghẽn cách hồi dòng lưu thông dịch não - tủy, giống như những u não thất.

U trên lều tiểu não

Trong u bán cầu đại não, đau đầu có tỷ lệ tương đối ít hơn, chỉ gặp trong 30-40% trường hợp, có khi tới 52%. Đó là vì tầng trên lều hộp sọ có dung tích lớn hơn và khối u phát triển dễ dàng ở đó lâu dài, lại xa hệ thống não thất. Do vậy nên có nhiều triệu chứng thần kinh xuất hiện trước khi đau đầu như: những cơn động kinh có ổ (động kinh cục bộ) hay động kinh toàn bộ (động kinh cơn lớn), hội chứng rối loạn cảm giác, giác quan, hay mất ngôn ngữ đã dần dần phát triển từ lâu. Trường hợp u ép vào hành khứu sẽ gây nên chứng mất ngửi.

Nói chung, đau đầu của u bán cầu đại não thường ở vị trí trán - thái dương, hay thái dương- đỉnh và cùng bên với khối u. Khi khám, dùng ngón tay ấn mạnh có thể gây đau chính ngay tại chỗ đối chiếu với khối u. Ghi điện não thường cho những dấu hiệu quý và sớm dưới thể tổn thương khu trú kiểu sống chẩm (tổn thương chẩm) hay sóng nhọn.

Những nét đặc biệt của đau đầu do di căn, do áp-xe và do bọc máu não

Các di căn ung thư có biểu hiện bằng nhiều cách: khi thì là một di căn trong nhu mô, đôi khi là một viêm màng não tân sản ở nền sọ: sự thâm nhiễm tế bào của màng mềm có thể gây đau dữ dội và làm tổn thương những dây thần kinh sọ não một cách pha tạp và lại ở hai bên. Chụp Xquang cũng thấy hình ảnh bình thường, mặc dầu hướng chẩn đoán đã được đặt ra dựa trên những yếu tố của một ung thư nguyên phát (vú, phổi...). Đau đầu trội ở một bên, do tổn thương những rễ cảm giác. Nếu có nhiều dây thần kinh sọ não cùng bị tổn thương, thường ở cùng một bên thì đó là hội chứng Garcin.

Cần ghi nhận thêm một đặc điểm tương đối hay gặp là đau nhức trên ổ mắt kèm theo giảm cảm giác trong khu vực phân bố của nhánh thần kinh mắt, thuộc về một hội chứng khá phong phú của thành xoang hang và tương ứng với những tổn thương tân sản của vùng tuyến yên và xương bướm, do di căn hay nguyên phát ung thư biểu mô (epithelioma) của xoang bướm.

Đau đầu có thể là dấu hiệu của các bệnh ở não

Nói chung đau đầu do căn nguyên di căn ung thư đều mang những tính chất riêng nổi bật là cường độ đau đầu ngày càng khốc liệt và đau không chịu nổi, dẫn đến một tâm trạng đau khổ, gây xúc động cho những người thân, buộc phải cho bệnh nhân dùng thuốc giảm đau mạnh.

- Áp-xe, bọc máu (hématome) não: đau đầu do áp-xe não và bọc máu não đều mang hầu như đầy đủ những đặc điểm của di căn ung thư não như đã mô tả ở trên. Trong bọc máu tự phát hay chấn thương, dù là loại bọc máu ngoài não (dưới hay ngoài màng cứng), ấn vào hộp sọ ở đấy đều gợi phát lên một điểm đau. Những bọc máu ngoài màng cứng xuất hiện sớm và thường là hậu quả của vỡ xương đỉnh, mà đường rạn, vỡ xuyên qua đoạn đường đi của động mạch màng não giữa. Tất nhiên, những yếu tố chấn thương nói chung đều đã rõ ràng. Những bọc máu dưới màng cứng thường hay xuất hiện muộn và đôi khi tiếp theo sau những chấn thương sọ nhẹ, khó có thể truy là nguyên nhân gây chấn thương, ở đây, đau đầu có thể nhẹ và thoáng qua.

Những kiểu đau đầu khác thường khó định hướng do u

Thực tế lâm sàng bao giờ cũng phong phú, đa dạng, nên có những u não mà đau đầu mang tính chất pha trộn, không theo quy luật đặc trưng, làm cho thầy thuốc dễ nhầm lẫn, bỏ qua:

- Do nhịp điệu đau đầu: Thông thường đau đầu do u não liên tục và "định vị", nhưng trong u não thất bên, u não thất III và đôi khi trong não thất IV, đau đầu lại có tính chất cơn kịch phát với thời gian khá ngắn do khối u lỏng lẻo trong não thất nên nhiều lúc đã trở thành cái "nắp cơ động" được đóng mở theo tư thế của đầu hay của cơ thể. Khi khối u chẹn con đường lưu thông dịch não - tủy sẽ lập tức xuất hiện cơn đau đầu rồi sau đó lại có thể biến đi nhanh chóng, do bệnh nhân thay đổi tư thế. Vì vậy những bệnh nhân có loại u này thường hay cố giữ đầu và cơ thể ở một tư thế "chọn lọc" nhất định.

- Do vị trí của đau đầu: Theo nguyên tắc, đau đầu do u não là cùng bên, tương ứng với khối u và thường là một bên hay ưu thế trội ở một bên. Nhưng quy luật này lại rõ ràng là sai ở trong một số trường hợp sau: u khu trú ở giữa hai bán cầu; u não ở giai đoạn muộn, khi hội chứng tăng áp nội sọ rất mạnh, đã tác động đến hầu hết các cấu trúc nhạy cảm đau trong hộp sọ.

Có trường hợp u hố sọ sau, nhưng đau đầu lại lan ra toàn bộ đầu và có xu hướng ưu thế ở khu vực trước của đầu; một số u màng não lại gây nhức cả nửa đầu, theo mạch đập trong một thời gian ngắn; một số u mạch (angiomes) cũng có biểu hiện như cơn đau nửa đầu (Migraine), đau nhói theo mạch đập...; có khi loại u (không phải là u mạch) lại được tăng phân bố mạch cũng mang tính chất đau nửa đầu theo mạch nẩy.

- Do một số triệu chứng kèm theo: đau đầu kèm theo rối loạn khí sắc (humeur) và hành vi, thái độ có thể gợi lên ban đầu một hội chứng trầm cảm, nhưng lại không có một dấu hiệu gì của hội chứng u sầu. Bệnh nhân lãnh đạm chứ không phải là lo âu, đôi khi có bán lú lẫn tâm thần và có một vài dấu hiệu nhỏ đáng nghi (đi loạng choạng, rối loạn cơ thắt). Đó là những đặc điểm của một vài loại u trán. Một bệnh nhân "trầm cảm" mất chứng mót tiểu, có nhiều khả năng là do u thể trai- trán. Trong u hố sọ sau, sự kết hợp đơn điệu và đau đầu, nôn mửa, đôi khi gợi lên một bệnh cảnh Migraine thể tiêu hóa.

- Giả u não

Theo Seymour Diamond và José L. Media, khoảng 20% có phù đĩa thị, nghi do u, lại là giả u não. Thể bệnh này xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đỉnh cao là ở tuổi 30, nữ thường gấp 2 lần nam. Khoảng 50% trường hợp là nguyên nhân do viêm tai giữa (tràn dịch não do tai), nhiễm khuẩn không đặc hiệu, hoặc nguyên nhân hỗn hợp như dùng tetracyclin liệu pháp và vitamin quá liều. Các trường hợp còn lại là tự nhiên không rõ nguyên nhân và thường xảy ra ở những phụ nữ béo phì, mức độ nặng hay vừa, có kinh nguyệt không đều.

Triệu chứng thường xuyên nhất của giả u là đau đầu khu trú, thường là ở trán, hai bên hay lan tỏa toàn bộ đầu với tính chất như bị ép và đau dữ dội lên cách hồi. Một triệu chứng chung thường gặp nữa là nhìn tối sầm thoảng qua trong mấy giây. Nhịp điệu xuất hiện triệu chứng này là tiêu chuẩn để đo mức độ nặng nhẹ của bệnh. Khi rối loạn thị lực này xảy ra ngày càng tăng thường xuyên tới 30 lần/ngày hay hơn thì mù thật sự đe dọa bệnh nhân (5% số bệnh nhân). Nhìn đôi có thể xuất hiện do yếu dây thần kinh VI, còn ngoài ra không có triệu chứng thực thể nào khác. Chọc sống thắt lưng thấy có tăng áp lực dịch não - tủy, nhưng xét nghiệm hóa học và tế bào đều bình thường. Xquang, chụp cắt lớp vi tính đều cho kết quả bình thường. Quá trình bệnh trung bình vào khoảng 8 tháng, có kết quả điều trị tốt bằng steroid liệu pháp.

Thái độ xử trí

Vì đau đầu gợi ý phát hiện một u não chỉ chiếm khoảng 3,4% tổng số các chứng đau đầu, cho nên cần phải thận trọng khi loại trừ chẩn đoán u não khi thiếu chứng đau đầu. Trên thực tế, có nhiều u não đã được xác chẩn, đặc biệt là loại u bán cầu đại não, trước khi xuất hiện đau đầu, là phải dựa vào triệu chứng lâm sàng thần kinh như những cơn động kinh hay hội chứng thiếu sót thần kinh tiến triển nặng dần lên. Hiện nay, phương pháp chụp cắt lớp vi tính có khả năng chẩn đoán chính xác một u não, ưu việt hơn hẳn tất cả các phương pháp chẩn đoán bổ trợ khác.

Các phương pháp điều trị

Đau đầu do u não là loại đau đầu đòi hỏi phải được điều trị căn nguyên sớm. Trên thực tế, giải pháp phẫu thuật bao giờ cũng phải đặt ra: nếu có thể, mổ cắt bỏ toàn bộ khối u điều trị một lần. Trường hợp không thể làm hơn được thì mổ cắt bỏ một phần, đó là trường hợp có nhiều u thần kinh đệm (Gliomes). Người ta thống nhất đề nghị cắt bỏ u di căn não khi ghi âm não hay chụp cắt lớp vi tính xác định là u đơn độc ở não. Đôi khi người ta điều trị bằng quang tuyến liệu pháp chiếu vào ổ hay tốt hơn bằng cobalt liệu pháp, nếu là loại u mẫn cảm với quang tuyến như các u nguyên tủy tế bào ở tiểu não (của trẻ em), u tuyến tùng. Trong những trường hợp này, người ta chiếu thêm quang tuyến vào cột sống để triệt những di căn bằng đường dịch não - tủy. Các loại u mạch máu, u nguyên tủy bào chịu tác dụng tốt đối với tia rơn-ghen.

Riêng đối với u ưa acid tuyến yên, chỉ có khoảng 1/3 số bệnh nhân giảm đau đầu dưới tác dụng của chiếu tia rơn-ghen. Có điều chưa được rõ ràng là đau đầu sẽ giảm ở mức độ nào cùng với sự giảm đi về khối lượng của u rơn-ghen có tác dụng đối với thụ cảm thế nào? Đau đầu do u tuyến yên phụ thuộc vào loại tân tạo. U ưa acid tuyến yên gây đau đầu mạnh hơn trong khi u kỵ màu tuyến yên thường gây tăng đau đầu do căn nguyên tâm lý, cần được chú trọng sử dụng tâm lý liệu pháp kết hợp trong điều trị. Tất nhiên, điều trị bằng phẫu thuật chọn lọc sẽ làm cho đau đầu của u kỵ màu tuyến yên mất đi, và của u ưa acid tuyến yên thì chỉ giảm đau đi thôi. Đặc biệt, sau khi cắt bỏ u và phẫu thuật giải phóng chèn ép loại u sọ - hầu, đau đầu vẫn tồn tại.

Đối với những trường hợp không cho phép làm phẫu thuật triệt để:

Nếu có tắc nghẽn ở vùng lỗ Monro, não thất III, não thất IV hay lỗ Magendi, cần phải làm phẫu thuật tùy theo từng trường phái, nhưng người ta vẫn cho là kỹ thuật tốt đang được áp dụng: làm thông một trong não thất bên với tâm nhĩ phải bằng một loại ống chất dẻo. Phẫu thuật dẫn lưu rẽ dòng này đôi khi chỉ là thì thứ nhất để nới bớt cho não đỡ quá căng, phòng ngừa tình trạng kẹt do một u của hố sọ sau, trong khi chờ đợi thời cơ mổ cắt bỏ u. Kỹ thuật mổ này cũng là một phương pháp độc nhất có khả năng giải quyết cho một số trường hợp sẹo gây tắc nghẽn hay những dị dạng đường lưu thông chủ yếu của tuần hoàn dịch não - tủy.

Một số u không phẫu thuật được, nằm trên lều tiểu não, có thể làm giảm đau đầu bằng cách cắt bỏ một phần xương thái dương và cắt động mạch màng não giữa. Phần não lòi ra sau phẫu thuật này không có vai trò làm xuất hiện đau, chỉ khi có sự chuyển dịch khối lượng lớn của các phần trong sọ mới làm tăng đau đầu. Những phẫu thuật giải phóng chèn ép ở các bệnh nhân có u não không thể mổ được đối với các u hố sọ sau, chỉ có tác dụng giảm đau ít và lại nhanh chóng mất tác dụng hơn là các u trên lều tiểu não. Tất nhiên đây cũng là những biện pháp xử trí cấp cứu trong khi chờ xác định chẩn đoán chắc chắn, cũng như điều kiện và thời cơ phẫu thuật tối ưu nhất.

Tóm lại, u não là một căn bệnh đáng sợ đối với mọi người, nhiều trường hợp u não chẩn đoán muộn, xử trí khó khăn để lại di chứng thậm chí tử vong. Trong khi đó nguyên nhân u não chưa rõ, có những trường hợp u di căn thì đã quá muộn. Do vậy việc phòng ngừa tốt nhất là khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm dấu hiệu báo động của u não để được chẩn đoán và điều trị sớm.

Theo PGS Vũ Quang Bích
SK&ĐS

2008 © Bản quyền thuộc về GiaDinh.net.vn - Báo điện tử của Báo Gia đình và Xã hội - Bộ Y tế – Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình
Giấy phép Báo điện tử số: 79/GP-TTĐT ngày 20/4/2011 của Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Bộ TTVTT
Điện thoại: 04.22120681 | Fax: 04.8463556
Điện thoại báo in Gia đình và Xã hội: 043.8463567 – Fax: 043.8463556
Đường dây nóng: Hà Nội: 043.8235807 máy lẻ 24 - 0904852222
Đường dây nóng: TP HCM: 082.2405776
Toà soạn: 138A Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội
Email: toasoan@giadinh.net.vn
® Ghi rõ nguồn "Giadinh.net.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này Vccorp.vn - Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam

Liên hệ quảng cáo: AdMicro
Hà Nội: +84 4 3974 8899 Ext: 3739
TP.HCM: +84 8 7307 7979 Ext: 82149
Email: giadinh@admicro.vn
Mobile: 0909 707 866 (Ms. Hằng)
Hỗ trợ & CSKH: 01268 269 779 (Ms. Nguyễn Thị Thơm)
Add: Tầng 5 & tầng 11, số 25-27 Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, Hà Nội
én bạc | gia đình | giải trí | tài chính