Ngày 4 Tháng 11, 2016 | 09:59 AM

Vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên và chuyện giấu chồng con viết hồi ký

GiadinhNet - Cuốn hồi ký "Chúng tôi đã sống như thế" của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết - người vợ quá cố của nhạc sĩ Phạm Tuyên - đang gây chú ý với nhiều tình tiết đặc biệt.

Ít người biết rằng, không phải đến bây giờ hồi ký "Chúng tôi đã sống như thế"mới được "trình làng" mà trước đó, gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên từng in tập sách này nhưng chỉ lưu hành nội bộ trong gia đình, tặng bạn hữu thân thiết.

Đến nay, 7 năm sau khi người vợ yêu thương của ông qua đời, gia đình quyết định tái bản, công bố hồi ký đến với đông đảo độc giả.

"Chúng tôi đã sống như thế" có dung lượng 450 trang do NXB Tổng hợp TP. HCM in và phát hành, là hồi ký của một nhà khoa học viết về cuộc đời mình và con đường nghệ thuật của người bạn đời với văn phong vừa mạch lạc của khoa học, vừa tinh tế của nghệ thuật, lại lấp lánh ân tình của cuộc đời.

Hồi ký gồm 6 phần: Nơi hai điểm xuất phát; Nơi gặp gỡ của tình yêu; Tổ ấm đầy biến động; Đường vào khoa học; Con đường âm nhạc; Vượt núi chặng cuối cùng.


Vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên trong đêm nhạc tôn vinh những sáng tác của ông nhân sinh nhật lần thứ 77

Vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên trong đêm nhạc tôn vinh những sáng tác của ông nhân sinh nhật lần thứ 77

Trao đổi với Báo Gia đình & Xã hội, chị Phạm Hồng Tuyến - con gái thứ của nhạc sĩ Phạm Tuyên tiết lộ: "Ban đầu, khi mẹ tôi viết hồi ký, cả gia đình không ai biết. Bà viết cho mình, viết thay cho cả chồng với nhiều câu chuyện đầy kỷ niệm. Sau này, khi ba và hai chị em tôi biết thì cả gia đình có chung một tâm nguyện là in sách ra càng sớm càng tốt vì mẹ tôi khi ấy không còn nhiều thời gian..."

Chị Hồng Tuyến tâm sự, trước khi qua đời, suốt 30 năm, PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết phải chống chọi với bệnh tiểu đường, chưa kể bà bị cả chảy máu dạ dày và nhiều bệnh khác. Nhưng người mẹ kiên cường ấy không muốn chồng con phải bận tâm suy nghĩ nên lạc quan đối diện với bệnh tật.

Bấy giờ, cả chị Hồng Tuyến và chị gái đều đang học bên Nga, bà Ánh Tuyết đã thống nhất với chồng không báo gì để các con yên tâm học tập. Mỗi khi bệnh tình trở nên nguy cấp, phải nằm viện, các học sinh, sinh viên nhiều thế hệ lại thay nhau chăm sóc bà.

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết sinh trong một gia đình cách mạng nòi ở làng Quảng Xá, cạnh dòng sông Kiến Giang, cách thị xã Đồng Hới 15 cây số. Cha bà là Nguyễn Trung Thầm, sinh năm 1911, một chiến sĩ cách mạng từng nhiều năm lâm chốn lao tù từ Đồng Hới tới Chí Hòa. Mẹ là Trần Thị Hồng Diệm, sinh năm 1913, một phụ nữ tân tiến đến với cách mạng.

Là con gái của một gia đình cách mạng, từ nhỏ bà đã sống trong môi trường tập thể, bà Ánh Tuyết chia sẻ trong hồi ký, suốt bao nhiêu năm trời chỉ ăn cơm tập thể, khiến bà rất vụng về trong cuộc sống. Con người bà bao giờ cũng có một mâu thuẫn: một mặt rất tự hào là con của một gia đình cách mạng được đoàn thể, nhân dân nuôi, nhưng mặt khác lại thấy tủi thân vì thiếu thốn tình cảm gia đình.


Bìa cuốn hồi ký Chúng tôi đã sống như thế

Bìa cuốn hồi ký "Chúng tôi đã sống như thế"

"Thời thơ ấu tôi đúng là một đứa trẻ lang thang, "không gia đình". Những lúc vui đùa với bạn bè thì thôi, chứ lúc một mình tôi thường cảm thấy tủi thân vì ít khi được gặp những người thân yêu ruột thịt, được sống trong vòng tay của mẹ, nên mong ước đến một ngày nào đó mình sẽ có một người mẹ bên cạnh, nghèo khổ cũng được miễn là được thương yêu" - đó là những đoạn hồi ký đầy tâm tư, trăn trở mà bà Ánh Tuyết quyết định viết ra.

Những năm học tập ở khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), cô sinh viên Ánh Tuyết và anh giáo sinh âm nhạc Phạm Tuyên đã đến với nhau… cả hai cùng vượt thoát sức nặng nhiều nỗi ám ảnh để giữ được tình yêu và gây dựng sự nghiệp…

Hồi ký không chỉ ghi lại con đường khoa học của bà mà còn ghi lại những chặng đường nghệ thuật của ông. Hoàn cảnh ra đời từng ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên, có lần ông chia sẻ với cá nhân người viết bài này rằng, ông cũng không nhớ, thì đều đã được bà ghi lại.

Đó là những ca khúc cho thiếu nhi như "Tiến lên đoàn viên" (1954), "Chiếc đèn ông sao" (1956), "Trường cháu là trường mầm non" (1973), "Cô và mẹ" (1975), "Chú voi con ở bản Đôn" (1983), "Cánh én tuổi thơ" (1987)… Những ca khúc cách mạng nổi tiếng như "Chiếc gậy Trường Sơn" (1967), "Như có Bác trong ngày vui đại thắng" (1975), và cả những khúc tình ca ít tai biết đến như "Gửi nắng cho em" (1976 - phổ thơ Bùi Văn Dung), "Bài hát xưa và Hồ Tây bình yên" (1991 - phổ thơ Nghiêm Thị Hằng)...

Viết về tình cảm với nhạc sĩ Phạm Tuyên vavf các tác phẩm của chồng, bà bộc bạch: "Nếu tôi được coi là điểm tựa của nhạc sĩ Phạm Tuyên, thì chính anh ấy cũng là điểm tựa của tôi. Chúng tôi dựa vào nhau để sống và làm việc. (...)

Một vài người bạn trách anh sao viết nhạc buồn vậy? Không, đó là nỗi lòng của chính anh, anh cũng như chúng ta, những người đã được hưởng hòa bình, hạnh phúc, ấm no do biết bao người đã hy sinh mang lại, giờ đây chúng ta không thể sống vô tư trong hòa bình được. Phải hiểu thật sâu sắc công ơn của những người đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho độc lập dân tộc, tự do của nhân dân; có cảm nhận sâu sắc hết nỗi mất mát, đau thương ấy mới quý trọng những thành quả của ngày hôm nay và thấy hết trách nhiệm của mình đối với cuộc sống mới. Công trường, xưởng máy, hầm mỏ, cánh đồng… ở đâu cũng có bước chân của anh theo đó là những bài hát ân tình để lại... Người ta biết nhiều đến nhạc sĩ Phạm Tuyên qua những ca khúc cách mạng nổi tiếng ở những thời điểm lịch sử, chứ mấy ai biết đến những khúc tình ca của anh".

Nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét: "Cuốn sách là trang ký ức của bà về những năm tháng vất vả gian nan, những ngọt bùi cay đắng mà bà từng trải. Hay nhất trong cuốn sách vẫn là những trang bà viết về học giả Phạm Quỳnh và nhạc sĩ Phạm Tuyên... Và tôi tin, rất tin cuốn sách sẽ làm bạn đọc yêu thích".

T.Phương

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC