Trung tướng Phạm Xuân Thệ: Những trận đánh bạt vía Ngụy quân

Ngày 30 Tháng 4, 2010 | 09:49 AM

Trung tướng Phạm Xuân Thệ: Những trận đánh bạt vía Ngụy quân

GiadinhNet - Nhiều người biết ông qua thời khắc lịch sử ngày 30/4/1975, qua những cuộc tranh cãi về tác giả của bức thư đầu hàng nổi tiếng mà Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh đọc trên đài Phát thanh Sài Gòn, nhưng những hình ảnh, phút giây cam go đời lính chiến trong những trận đánh cận kề ngày lịch sử, ông chưa một lần thổ lộ. Trung tướng Phạm Xuân Thệ sẽ đưa độc giả Báo GĐ&XH về những trận chiến ác liệt ấy.

Chọc thủng "mắt ngọc"

Khoảng tháng 6-7/1974, Trung đoàn 66, Sư 304 nhận được lệnh từ BTL Quân đoàn 2 vào mặt trận Quảng Đà, cùng các đơn vị thuộc Quân khu 5 tiến đánh và giải phóng quận lỵ Thượng Đức ở phía Tây TP Đà Nẵng (nay là huyện Đại Lộc, Quảng Nam - PV). Theo lời kể của Trung tướng Phạm Xuân Thệ, quận lỵ Thượng Đức được Tỉnh trưởng Quảng Nam mệnh là "Cánh cửa thép" của Đà Nẵng, còn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì rêu rao căn cứ này với cụm từ hoa mĩ là "Mắt ngọc của đầu rồng".
 
Chúng càng thổi phồng lên khi 2 năm 1969, 1970 quân ta tiến đánh vào đây nhưng không đạt kết quả. Trấn yểm cửa ngõ phía Tây TP Đà Nẵng, quận lỵ Thượng Đức được bao quanh bởi núi cao hiểm trở, đối diện là hợp điểm của 2 dòng sông Côn, sông Vu Gia. Để đánh vào đây, quân ta chỉ có hướng Tây là hướng tấn công duy nhất. Dựa vào thế hiểm trở, Ngụy quân đã biến cánh cửa phía Tây thành tử điểm "bất khả xâm phạm" bằng cách bố trí hoả lực mạnh, nhiều tầng, nhiều vòng. Mọi hoạt động tác chiến của địch đều diễn ra trong lòng đất nhờ sự bao bọc của hệ thống hầm ngầm bê tông cốt thép hai tầng, hàng trăm ụ súng bán nổi và hệ thống trên 30 lô cốt lớn.
 
Ngoài ra, căn cứ này còn được các trận địa pháo ở động Hà Sống, Núi Lở, Ba Khe hỗ trợ khi cần thiết. Cùng đó, hệ thống hàng chục pháo cơ động, pháo tầm xa và không quân từ sân bay Đà Nẵng sẵn sàng nhả đạn, chi viện. Bên cạnh hoả lực mạnh, súng ống trang thiết bị tối tân, quân địch tại đây được đánh giá rất ngoan cố với gần 1,6 vạn quân.
 
u Ông Phạm Xuân Thệ (ngoài cùng bên phải) trong đoàn dẫn Tổng thống ngụy từ Dinh Độc lập đến Đài phát thanh Sài Gòn (tư liệu).

Mờ sáng 28/7/1974, quân ta gồm Sư đoàn 324, Sư đoàn 304, Trung đoàn 3, Tiểu đoàn 10 Quảng Đà nã pháo cấp tập vào cứ điểm Thượng Đức. Ngày 31/7, ông Thệ trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 9 hỗ trợ đánh vào căn cứ này. Cuộc chiến ngày càng quyết liệt, quân ta tổn thất không nhỏ. Theo dòng hồi ức về trận Thượng Đức, tướng Thệ đã khóc khi nhớ lại hình ảnh quả cảm của các chiến sỹ bộc phá: "Vừa chứng kiến cảnh đồng đội bị chôn vùi bởi đạn pháo, các chiến sỹ bộc phá phía sau đã quả cảm xung phong. Mục tiêu cuối cùng là đặt được bộc phá, đánh tung hàng rào địch. Có không ít chiến sỹ bị thương, mắc kẹt trên hàng rào thép gai địch, đồng đội vì lao lên cứu nhau mà chết thảm".

Chứng kiến những hình ảnh tang thương cắt ruột đó, tinh thần chiến đấu của quân ta càng tăng lên gấp bội, quyết chiến để trả thù cho đồng đội. Cùng đó, ta thay đổi chiến thuật bằng cách điều pháo chống tăng 76,2mm, pháo cao xạ 37mm lên đồi cao nhằm các lỗ châu mai địch dội thẳng. Mờ sáng 7/8, các loạt pháo từ xa của ta dội như trút nước xuống đầu địch. Quận trưởng quận lỵ Thượng Đức dính đạn, tự sát chết thảm trong loạt đạn đầu tiên. Tiếp đó, Thiếu tá - Tiểu đoàn trưởng 79 biệt động quân Hà Văn Lầu, quận phó Vũ Trung Tín bị bắt sống.
 
Sau gần 4 giờ chiến đấu, đến khoảng 9h sáng 7/8, "Cánh cửa thép" của tỉnh trưởng Quảng Nam, "Mắt ngọc đầu rồng" của Tổng thống Thiệu bị chọc thủng. Thượng Đức hoàn toàn giải phóng. Địch điên cuồng tái chiếm nhưng thất bại. Sau trận này, Thượng uý Phạm Xuân Thệ được phong hàm Đại uý, giữ chức Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 304. Từ tháng 8/1974 đến tháng 3/1975, ông tham gia chiến đấu trên mặt trận Đà Nẵng. 29/3/1975, ông chỉ huy tiểu đoàn 8 đánh vào cổng phía Tây của TP Đà Nẵng. Sau khi giải phóng Đà Nẵng tiếp tục củng cố lực lượng, ngày 10/4 đơn vị ông được lệnh hành quân vào Nam bằng xe cơ giới, nhiệm vụ chính là "gặp đâu đánh đó". Lúc này ông cũng chưa biết đang tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.

"Khuấy đục" Nước Trong

Ngày 21/4, đến thị xã Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy (nay là tỉnh Bình Thuận - PV), địch đang chiếm giữ cho dù bên trong Quân đoàn 4 đã chiếm được Xuân Lộc. Thị xã Hàm Tân án ngữ trên trục đường 1, cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. Trung đoàn 66 được lệnh đánh chiếm cứ điểm này. Đêm 21/4, đại uý Thệ trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn 8, đánh cầu Bình Tuy thọc vào thị xã Hàm Tân. Sau 2 giờ nổ súng (từ 19h đến 21h) quân ta làm chủ thị xã. Đêm 22/4 tiếp tục hành quân, sáng 23/4 đến đồn điền cao su Ông Quế cách Sài Gòn 60km. Lúc này họp chỉ huy Trung đoàn, đại uý Thệ mới được biết đang tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Đêm 23/4, ngày 24/4 một số đơn vị được lệnh đi trinh sát địch ở Tổng kho Long Bình và căn cứ Nước Trong.
 

Đại gia đình Trung tướng Phạm Xuân Thệ.


Theo tính toán, để tiến đánh Sài Gòn từ phía Đông, Quân đoàn 2 cần thành lập một binh đoàn thọc sâu. Lúc này, Trung đoàn 66 cùng các đơn vị tiến đánh căn cứ Nước Trong và tổng kho Long Bình. Khi các Trung đoàn 9, 24 đánh xong trận Nước Trong, một phần tổng kho Long Bình thì cùng Trung đoàn 66 tiến thẳng vào nội đô TP Sài Gòn. Đích cuối cùng là Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hoà và Dinh Độc lập.

Căn cứ Nước Trong vốn là trường sỹ quan thiết giáp nên bố trí cực kỳ vững chãi. Bên trong, địch dễ dàng quan sát ta, xe tăng của chúng được bảo vệ bởi các ụ súng nên hoả lực rất mạnh. Bao quanh, địch đào hào sâu, cài vô số bãi mìn để chống xe tăng tiến đánh. Quân ta chỉ tiến đánh theo đường cổng chính nên địch tập trung tối đa hoả lực mạnh nhất vào đây. Hai bên nổ súng từ cuối ngày 26/4, lực lượng Trung đoàn 9 tổn thất lớn. Trận chiến luôn trong tư thế giằng co. Ta tiến vào, địch tập trung hoả lực mạnh đẩy ra. Mỗi bước tiến đều thẫm đấm máu của các chiến sỹ anh hùng.
 
Trước tình hình đó, quân ta dùng bộ binh kết hợp với xe tăng, dùng pháo bắn thẳng nhằm hạ các ụ súng lô cốt bên trong. Đồng thời dùng pháo xe tăng bắn cháy xe tăng địch, dùng pháo lớn bắn trùm lên đội hình địch, ngăn không cho địch quan sát để bộ binh tràn vào. Cùng đó, huy động bộ binh, xe tăng đi vòng, tiến đánh từ cửa sau. Chiều 27/4, đại uý Thệ chỉ huy Tiểu đoàn 9 bộ binh lên tăng cường cho Trung đoàn 9 tiếp tục đánh chiếm căn cứ Nước Trong. Đến trưa 28/4 quân ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Nước Trong. Khi địch ở căn cứ Nước Trong bỏ chạy thì địch ở tổng kho Long Bình nháo nhác bỏ trận địa.

Đây là các trận đánh quan trọng góp phần đưa các binh đoàn của ta triệt tiêu sinh lực địch, áp sát Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của Ngụy quyền Sài Gòn. Tiếp đó, ngày 29/4, binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 gồm Trung đoàn 66, Lữ đoàn xe tăng 203, pháo binh, công binh, đặc công và các binh chủng phục vụ củng cố lực lượng, trang thiết bị, nhu yếu phẩm để tiến đánh vào Sài Gòn. 17h ngày 29/4, 400 xe của binh đoàn hành quân vào nội đô. Sáng 30/4, binh đoàn thọc sâu chiến đấu một trận ác liệt tại cầu Sài Gòn, cửa ngõ của nội đô. 11h30 phút, cờ giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc lập.
 
Trung tướng Phạm Xuân Thệ, sinh năm 1947 tại Khả Phong, Kim Bảng, Hà Nam. Lập gia đình năm 1973, hiện vợ chồng ông sống tại 89 Nguyễn Hoàng Tôn, Xuân La (Tây Hồ, Hà Nội). Ông nhập ngũ năm 1967. Trong những năm kháng chiến, chức vụ, quân hàm cao nhất của ông là Đại úy, Trung đoàn phó Trung đoàn 66. Năm 1991, ông giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304. Năm 1995, ông mang quân hàm Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 2. Năm 2002, ông mang quân hàm Trung tướng, giữ chức Tư lệnh Quân khu 1, đến tháng 1/2008 ông nghỉ hưu. Trung tướng Phạm Xuân Thệ được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều huân, huy chương cao quý như Huân chương Chiến công Giải phóng hạng 3, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng…
 
 
Công Tâm

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC