Ngày 5 Tháng 6, 2009 | 07:48 AM

Quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam: Sự hời hợt mất tiền tỷ

Quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam: Sự hời hợt mất tiền tỷ

Giadinh.net - Lao động nước ngoài tại Việt Nam nếu không giữ các vị trí chủ chốt trong doanh nghiệp thì cũng là công nhân kỹ thuật, chuyên gia trong các dự án lớn.

Mức thu nhập của những người này thường rất cao so với mặt bằng chung ở nước ta. Tuy nhiên, Bộ LĐ,TB&XH cũng không nắm được hết. Sự hời hợt trong quản lý đã khiến ngân sách giảm đi một khoản thu đáng kể.
 
Gần 70% “ngoài vùng phủ sóng”

Cần quản lý chặt chẽ người lao động nước ngoài để tránh thất thu ngân sách nhà nước (ảnh chỉ mang tính minh họa).  Ảnh: TTXVN

 
Nguồn tin từ Bộ LĐ,TB&XH cho biết, thực hiện yêu cầu của Chính phủ về tình hình quản lý người lao động nước ngoài ở Việt Nam, Bộ này đã kết hợp với Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương tổ chức đoàn công tác khảo sát, kiểm tra tình hình quản lý lao động nước ngoài tại một số tỉnh trọng điểm.
 
Con số chưa đầy đủ cho thấy, TP Hồ Chí Minh có 50.000 lao động nước ngoài đang làm việc nhưng chỉ có hơn 10.000 thẻ tạm trú cho người nước ngoài được cấp. Hà Nội có 15.357 người nước ngoài bao gồm cả người làm công tác ngoại giao, đại diện các tổ chức phi chính phủ, người nước ngoài thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam, Quảng Ninh với 4.701 người, Hải Phòng 3.500 người...

Bộ LĐ,TB&XH xác nhận qua khảo sát, kiểm tra tại các địa phương, ở tỉnh nào cũng có người nước ngoài làm việc nhưng chưa có số lượng đầy đủ. Các con số nêu trên chủ yếu dựa vào báo cáo của các tổ chức, doanh nghiệp, còn những đối tượng nước ngoài nhập cảnh trái phép, trá hình để làm việc thì chưa nắm được. Tuy nhiên, ngay cả lượng người lao động nước ngoài nắm được thì tình hình cấp phép lao động cũng rất thấp, chỉ 37,9%. Trong đó, TP Hồ Chí Minh cấp phép được 29,31%, Hà Nội 39,19%, Tây Ninh 72,18%, Lâm Đồng 18,7%, Quảng Ninh 10,33%...

Thất thu tiền tỷ

Quan điểm về vấn đề lao động nước ngoài hiện nay là nước ta vẫn thiếu lao động có trình độ cao, lao động là nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc chuyên gia (bao gồm kỹ sư và người có trình độ tương đương trở lên)... Việt Nam không có nhu cầu về lao động phổ thông và phải dùng công việc này cho lao động trong nước.


Nhận định của Bộ LĐ,TB&XH cũng cho thấy lao động nước ngoài ở nước ta một số có trình độ nên được hưởng chế độ đãi ngộ tốt hơn và nắm vị trí quan trọng trong các doanh nghiệp. Các đối tượng là công nhân kỹ thuật, lao động phổ thông (thuộc diện không được cấp phép lao động) cũng có mức thu nhập cao hơn.
 
Nhưng khi họ không được quản lý, không được cấp phép thì việc thực hiện các nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ lao động khác chắc chắn cũng không được tiến hành. Với tình trạng quản lý này, thất thu tiền tỷ mỗi năm là điều dễ hiểu.

Ở một phương diện khác, chính Bộ LĐ,TB&XH cũng thừa nhận tránh nhiệm quản lý lao động nước ngoài thuộc thẩm quyền của mình. Tuy nhiên, cái “khó” được “nại” ra là trong công tác quản lý lao động nước ngoài, hiện chỉ có Nghị định 34/2008/NĐ - CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người lao động nước ngoài tại Việt Nam. Vậy nhưng Nghị định này đang được đánh giá là minh chứng cho một tư duy quản lý không rõ ràng, thậm chí còn... nhầm lẫn về các đối tượng điều chỉnh(?!). Từ đó chính sách quản lý lao động nước ngoài trở nên khó hiểu, khó thực hiện.

Cụ thể, người nước ngoài vào Việt Nam để làm việc được phân ra thành 3 đối tượng chính. Đó là dạng dịch chuyển thể nhân theo thị trường dịch vụ (được WTO quy định), dịch chuyển lao động trên thị trường lao động và những người làm việc tại văn phòng đại diện của các tổ chức phi chính phủ. Với kỳ vọng quản lý tất cả các đối tượng này và sự nhầm lẫn về khái niệm, Nghị định 34 đã “gom” cả 3 dạng dịch chuyển này vào đối tượng điều chỉnh và đưa ra chính sách quản lý chung. Theo đó, người nước ngoài cứ vào Việt Nam làm việc trên 3 tháng phải xin giấy phép từ cơ quan lao động địa phương.
 
Trong khi đó, theo quy định của WTO, người lao động dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác làm việc theo hiện diện thương mại là điều bắt buộc trong WTO và họ không phải xin giấy phép lao động. Những người làm việc trong các tổ chức phi chính phủ thường thuộc quản lý của Bộ Ngoại giao và họ cũng không phải xin giấy phép lao động.

Như vậy trách nhiệm của ngành lao động là quản lý dịch chuyển lao động trên thị trường lao động. Chỉ dạng dịch chuyển này mới phải quản lý bằng giấy phép. Sự “nhầm lẫn” ngay từ trong đối tượng điều chỉnh của Nghị định 34 và tham vọng quản lý tất cả 3 dạng dịch chuyển liên quan đến lao động đã khiến Nghị định này trở nên phức tạp và khó thực hiện. Chính ngành lao động là cơ quan cấp giấy phép nhưng cũng không biết số lao động được cấp phép là bao nhiêu và bao nhiêu người đang làm việc không phép.
 
Ngọc Tước

Báo Gia đìnhXã hội cập nhật tin tức trong ngày liên tục, mới nhất

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC