|
|
|
Huyền Khê Trịnh Quốc Hoàn còn nhiều dự định viết cho
quê hương nữa. |
Ngôi làng Đa Sỹ, Hà Đông, Hà Nội đã có tuổi đời trên 2.000 năm. Thế nhưng bây giờ, các di sản, nét văn hóa độc đáo của làng cứ phai nhạt dần bởi sự du nhập của văn hóa ngoại lai. Có một cụ già đã cầm bút viết lại những chuyện làng mình.
Trả nợ làng
Ông là Huyền Khê Trịnh Quốc Hoàn, người làng Đa Sỹ, xã Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội. 77 tuổi, tuy sức đã yếu nhưng nhìn ông vẫn phong độ và minh mẫn. Đặc biệt mỗi khi kể lại chuyện làng, dù là những chi tiết nhỏ đã xảy ra hơn 20 thế kỷ nhưng ông Hoàn vẫn đọc vanh vách.
Ông Hoàn nói: "Từ lúc mới là anh thanh niên, tôi đã để ý nghiên cứu về lịch sử và văn hóa không chỉ của làng Đa Sỹ mà còn những nơi tôi đặt chân đến. Cho nên, tư liệu đã nằm sẵn trong đầu từ bấy lâu". Thế nên, cuốn sách "Lại... việc làng" kể chuyện làng từ thuở thành lập cho đến sau này, đề cập đến phong tục, dân ca, đình chùa, thôn xóm... của ông từ trong ý tưởng đến lúc viết xong bản thảo chỉ vỏn vẹn trong 2 tháng.
"Lại... việc làng" là một món quà lạ nhưng quá đỗi quen thuộc của người làng Đa Sỹ. Nhiều người đã biết rõ sử làng nhờ đọc cuốn sách này. Người làng gọi ông với cái tên thân thuộc: "Ông già viết sử làng dao kéo". Sở dĩ gọi Đa Sỹ là làng dao kéo bởi nơi đây đã có truyền thống làm nghề rèn dao kéo lừng lẫy khắp cả nước hàng trăm năm nay.
Ông Hoàn bảo rằng nếu không phải chống chọi với căn bệnh tiểu đường đã chục năm nay thì ông đã có thể viết được nhiều hơn, không chỉ chuyện làng quê mình mà còn chuyện của các làng quê khác. Tôi lấy làm thắc mắc vì sao mãi đến lúc ngoài 70 tuổi ông mới viết sách, ông Hoàn tâm sự: "Tôi vốn là con của địa chủ kháng chiến, từng đi học trường Tây, thuộc lớp nho sinh cuối cùng thời ấy. Rồi lớn lên làm cán bộ thương phẩm. Nhưng bị gắn cái mác "con địa chủ" nên thời bấy giờ mọi nỗ lực phấn đấu của tôi đều gặp rất nhiều khó khăn. Nên tôi không có điều kiện viết. Mãi đến năm 2006, anh bạn tôi là ông Tống Đức Phát sau mấy chục năm gặp lại đã vô cùng ngạc nhiên khi tôi không có lấy một tác phẩm nào. Ông Phát đã thúc giục tôi viết. Từ đó tôi mới bắt tay vào việc viết sách".
Ông Hoàn mang sách đến nhờ Giáo sư Trần Lâm Biền đọc bản thảo. Cụ Biền bảo: "Tôi mới đọc thử một hai trang đầu, chẳng ngờ thế nào mà đọc liền một mạch xong bản thảo. Tôi rất vui được viết lời giới thiệu và đề nghị được làm bạn với cụ".
Một cuốn sách nhỏ, không dám tham "ngó" sang làng khác, mà chỉ chuyên chú vào kể chuyện làng mình, từ lịch sử làng thế nào, chuyện ngôi đình ra sao, từ tích thành hoàng cho đến mấy việc làng việc xã của các ông lý trưởng, bá hộ sau này, rồi đến hội hè, lễ lạt... Không làm việc của một nhà nghiên cứu, ông Hoàn khéo léo kể chuyện, dẫn giải và lồng vào sách những người, những việc tai nghe, mắt thấy rất sinh động. Thế mới có chuyện, có anh kia một ngày mẹ mất, anh đem cái phần thủ tục tang lễ trong sách "Lại... việc làng" ra mà thực hiện. Họ hàng từ Nam Định lên, các ông các bà mới ngạc nhiên quá, sao cậu trẻ thế mà đã biết làm đâu ra đấy...
Ông Hoàn bảo, viết cuốn "Lại... việc làng" là để trả nợ làng. Ông coi như việc gìn giữ những nét văn hóa trên 2.000 năm của quê mình như một món nợ phải trả. Bao nhiêu năm phiêu bạt đây đó làm ăn, về già ông trở về quê sống gần như ẩn dật, nhàn tản.
Giáo sư Trần Lâm Biền cũng phải tấm tắc khen: "Huyền Khê đã đi vào nhiều góc cạnh văn hoá xã hội của làng Đa Sỹ xưa và nay, nhưng sao tập sách này vẫn có sức bao trùm lên cả nhiều vấn đề chung của xã, thôn Việt Nam thuở trước. Tập sách cũng đưa ra được một số việc làng với những tư liệu khá thuyết phục".
|
|
|
Bản thảo tập phú "Thiên thu âm vọng" bằng cả hai thứ tiếng Hán-Việt sắp được hoàn thành. |
Bộn bề dự định
|
Tuổi ngày càng cao, sức càng yếu. Mỗi ngày ông phải dành cho việc thể dục 4 giờ đồng hồ. Ông bảo: "Ngoài 4 giờ ấy còn phải nghỉ ngơi, ăn uống kiêng kỵ mất khá nhiều thời gian nữa. Mình khởi điểm đã muộn rồi, bây giờ quỹ thời gian lại không nhiều". Cầm trên tay bản thảo tập phú bằng chữ Hán có nhan đề "Thiên thu âm vọng", ông nói rằng đó sẽ là cuốn sách tiếp theo. Dự định của ông còn nhiều, "nếu sức khỏe cho phép tôi sẽ viết riêng một cuốn về nghề rèn Đa Sỹ. Nghề đã đưa tên tuổi Đa Sỹ đến với cả nước". |
Ông Hoàn ví mình như "chim phải tên sợ cành cong", điều đó hạn chế rất nhiều đến việc viết lách. Ông tâm sự, cũng chính vì xuất thân từ gia đình địa chủ nên đi đâu học, tham gia phong trào gì cũng bị hạn chế. Nhưng sự đam mê học hỏi, đam mê văn chương, thơ phú thì không bao giờ ngừng chảy trong ông. Ông kể có người bạn cũ gặp lại đã tự tay lục tung nhà ông chỉ để tìm những bài thơ ông viết. "Mình nghĩ mình làm thơ cũng chỉ để mình đọc, nên không chú trọng việc lưu giữ. Vậy mà ông bạn tôi cũng lục ra được vài chục bài để cùng với ông ấy in thành tập thơ", ông kể. Rồi thời trẻ, lúc làm việc ở Hòa Bình, trẻ tuổi bồng bột, ông cùng với người bạn "mở" tờ báo tường cơ quan, đặt tên là "Đãi sạn", ghi lại một cách châm biếm những việc chưa đúng, chưa hay. Ngay lập tức cơ quan họp kiểm điểm, quy là "Nhân văn giai phẩm". May mà ông thủ trưởng lại "bênh" cho.
Cái tâm tư, cái tình yêu cũng như vốn hiểu biết sâu rộng về quê hương được ông Hoàn thể hiện trong "Phi lộ" của cuốn sách: "Ở đời, ai mà chẳng mải mê, bận rộn mưu sinh. Chợt, có một lúc nào đó, ta dừng chân dưới một gốc đa, gốc bàng cổ thụ phía đầu làng, lòng ta không khỏi bâng khuâng nghĩ về dĩ vãng... Một cây bàng còn như vậy, một LÀNG ắt có biết bao dấu ấn, biết bao "CÁI NGÀY XƯA", khiến con người nghĩ đến mà tự hào, mà ngây ngất ấm lòng... Rồi, chính từ đó, trái tim ta xốn xang tình yêu quê da diết...".
Tình yêu quê hương được thể hiện ở việc ông lấy hiệu là Huyền Khê - chính là cái tên cổ của làng Đa Sỹ. Ông Hoàn tiếc nuối khôn nguôi khi nói về những di sản người làng vô tình làm biến mất: "Không đâu như ở Đa Sỹ quê tôi. Từ xa xưa đã có cái vườn học, ở đó bao nhiêu tiến sỹ, lưỡng quốc trạng nguyên... đã từng ngồi ôn luyện bài vở. Là nơi các thầy đồ dạy trẻ, ở đấy có đủ bàn thờ Đức Khổng Tử, rồi Thất thập nhị hiền, trồng bao nhiêu loại cây, bây giờ đã bị bỏ quên. Rồi ngôi chùa làng, một minh chứng đắt giá cho tuổi đời ngôi làng này đã trên 2.000 năm giờ đã bị phá bỏ hoàn toàn. Nhiều đêm nằm nghĩ lòng xót xa vô hạn. Tôi nghĩ mình phải viết lại những phong tục tập quán nghi lễ của cha ông để con cháu còn biết để tiếp nối truyền thống".
Cứ 12 tháng Giêng (âm lịch), người tham gia hội làng Đa Sỹ lại thấy ông Hoàn có mặt ở Bia Bà viết sớ phục vụ người đi lễ hội. "Ông đồ" Trịnh Quốc Hoàn vừa tinh thông chữ Hán Nôm, vừa thành thạo Pháp ngữ. Ông có biệt tài viết chữ Hán rất đẹp. Bao nhiêu năm ông thổi hồn vào những nét rồng bay phượng múa của Hán tự, vì thế ở Bia Bà, người ta cứ đến nhờ ông viết sớ vì biết rằng ông viết đẹp và chính xác.
Nguyễn Thành