Ngày 16 Tháng 11, 2013 | 07:20 PM

Người sót lại của chiến tranh và cuộc tình bên dòng sông cổ tích:

Mối tình bên dòng sông cổ tích

Mối tình bên dòng sông cổ tích
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Chỉ có một bộ quần áo trên người, ông lội bộ tìm về làng Kuk. Làng Kuk bấy giờ xác xơ đói rét lắm, song cũng chẳng biết đi đâu bởi đây là nơi duy nhất ông có người quen. Người quen đó sau này lại chính là người ông lấy làm vợ, cùng ông trải qua biết bao nhiêu nỗi niềm trong cuộc sống.

Mối tình bên dòng sông cổ tích 1

Ông Đinh Quân Vĩ. Ảnh: T.G

 
Cuộc tình với cô thanh niên xung phong

Trước khi vào làng Kuk tìm ông, tôi đã nghe không ít lời đồn đại chuyện thuốc thư, bùa ngải khá ly kỳ ở ngôi làng này. Chuyện ông Đinh Quân Vĩ nghi bị bỏ "bùa mê thuốc lú" nên không về quê cũ, quyết ở lại mảnh đất này là chuyện mà nhiều người dân luôn bàn tán. Thấy tôi hỏi chuyện, người ta thậm chí còn quả quyết rằng: "Cứ cho là trước đây rừng núi mịt mù, điều kiện liên lạc không có thì cũng đành. Bây giờ ở làng Kuk, đến đứa trẻ con cũng biết điện thoại di động mà vẫn không nghĩ đến chuyện về quê hay tìm cách liên lạc với gia đình thì tôi tin chắc là ông ấy đã bị bỏ bùa rồi(!)".

Nhưng khi gặp ông, tôi mới hiểu chưa hẳn chuyện bùa mê thuốc lú đã có tác dụng với ông. Hôm sau ông đưa tôi về nhà, vợ ông, bà Rmah Thận đang ngồi sưởi nắng trước hiên nhà, thấy khách lạ bà cứ nhìn chằm chằm, có lẽ bà sợ rằng đó là người sẽ đến mang ông đi. Nhưng ông cầm tay bà, nói mấy câu bằng tiếng Jrai thì bà cười rồi lọm khọm đứng dậy đi vào bếp, rồi mang ra một ghè rượu và một ít cá khô và cuộc rượu với những câu chuyện trầm luôn kiếp người lại được ông kể.

Hỏi về gia đình, ông hấp háy mắt, ửng lên một niềm vui. Trong những ngày vô vị đầu tiên khi ông về làng Kuk này, ông đã tình cờ gặp Rmah Thận. "Bà ấy vốn là thanh niên xung phong của Mặt trận B3. Cũng đã gặp mặt một đôi lần gì đó ở binh trạm nhưng tôi đâu có hay bà ấy ở làng này. Như là duyên tiền định, chỉ con gà với ghè rượu, chúng tôi nên vợ nên chồng…", ông Vĩ chậm rãi uống một ngụm rượu ngọt như người ta uống nước, rồi bắt đầu câu chuyện về mái ấm của mình.

Nói thì đơn giản vậy thôi, chứ hồi ông mới về đây, không một tấc đất trong tay, tự ông mở đường, phát rừng làm rẫy, tự cất một cái chòi nhỏ trong núi. Ngày ngày Rmah Thận đi làm rẫy ngang qua, cứ để ý thấy một anh bộ đội sống một mình thui thủi, lại thấy quen quen nên bắt chuyện. Nào ngờ lại gặp lại người lính mà bà từng chỉ đường năm nào. Rồi dần dần bà quen ông, ở lại nấu cơm cho ông, cùng ông đi làm rẫy và tình yêu nảy nở từ lúc nào chẳng biết. Thế là thành vợ thành chồng, sinh con đẻ cái đến bây giờ.

Hồi ấy làng Kuk này nhà nào cũng đói xác xơ vì mới chạy loạn từ Campuchia về. Nhà Rmah Thận cũng thế nên chẳng giúp được gì, hai vợ chồng ông bắt đầu tạo dựng cuộc sống từ con số "không". Sáng tinh mơ đã chui ra khỏi lều, chiều nhọ mặt người mới chui về. Vậy mà ba năm đầu cũng đói vàng cả mắt, có khi phải đi đào củ mài về ăn. Thời chiến tranh con mắt nhìn mọi chuyện đều đơn giản, đến lúc hòa bình mới thấy cuộc sống bao điều phải suy xét, lo toan. Ông ở nhờ nhà vợ, 6 con người phải chen chúc nhau trong túp lều dễ chừng chỉ nhỉnh hơn chòi lúa.
 
Mối tình bên dòng sông cổ tích 2

Bà Rmah Thận, người níu giữ trái tim đầy mặc cảm của người đàn ông trên cao nguyên ấy. Ảnh: T.G


Ngày tiếp ngày, những gì đang xảy ra ngoài làng Kuk, với ông là cả một thế giới xa xăm. Làm việc không tiếc thân mình, vốn liếng đã có lúc lên tới 7 con bò, lẽ ra ông đã được đền bù hay chí ít ra thì cũng đã có căn nhà đàng hoàng để ở, thế nhưng rốt cuộc lại trở về tay trắng. Nguyên do là bởi bệnh tật rình rập khắp nơi, sốt rét hoành hành. Hồi ấy đời sống vẫn vo cùng khó khăn, thuốc chữa bệnh là thứ xa xỉ và vô cùng hiếm hoi ở đất này. Mỗi gùi lúa ba chục cân chỉ đổi được liều thuốc hạ sốt. Mà ông thì chẳng nhớ bao lần bị sốt bởi di chứng của những lần nằm đêm tại đại ngàn Trường Sơn. Gia sản dành dụm bao mùa rẫy cuối cùng cũng đi theo những lần ông tiêm thuốc, những lần ông ra trạm xá. Ông lại trở về tay trắng, lại cun cút làm lai từ đầu, gây dựng từ đầu với cơ thề gầy gò của mình.
 
Niềm hạnh phúc ở rừng cười

Thực ra thì nỗi đau thể xác ấy có đận rồi cũng qua, chuyện đáng nói hơn là con cái. Dù ông chỉ kể sơ sài thì tôi cũng cảm nhận được nỗi buồn thầm kín ấy. Ông có đến 8 đứa con 4 trai, 4 gái. Trong cái không gian làng, như bao đứa trẻ một thời, chúng cứ lớn lên lấm láp và gần như hoang dã như cây cỏ đại ngàn này. Buồn nhất là các con ông. Có đe nẹt hết cách, một đứa cũng tới được lớp 6, một đứa men tới lớp 9 thì bỏ. Chúng thích lên rẫy hơn là đến trường. Đau nhất là đứa con đầu. Nó cao to, trắng trẻo, đẹp trai nhất làng, nhưng bỗng dưng nó trở bệnh rồi mất một cách bí hiểm. Vợ ông quả quyết là nó bị bỏ "thuốc thư". Ông chẳng tin nhưng nỗi đau này cứ ám ảnh không thể nào nguôi. Những đứa con sau này cứ theo lẽ thường tạo hóa, chúng lần lượt lấy vợ lấy chồng, gắn cuộc đời với rẫy nương.

Buồn hơn cả trong số chúng là Siu Hoa. Hoa là cô gái trắng trẻo, xinh xắn vào hàng nhất làng Kuk. Hoa lấy Rơ Châm Then cùng làng. Nhưng năm 2004, làng Kuk bị cuốn vào cơn lốc vượt biên. Nghe lời bọn phản động dụ dỗ, Then đã đành đoạn bỏ lại đứa con mới thôi nôi và người vợ trẻ để đi tìm "đất hứa". Trong chuyến đò vượt sông Pô Kô vào cái đêm mưa gió bão bùng ấy, chỉ mỗi Then và đứa cháu gái may mắn thoát chết. Nhưng cập được bờ "đất hứa" rồi, anh ta lại viết thư về tuyên bố bỏ vợ… Bây giờ, con gái ông một mình nuôi con, cất một cái chòi nhỏ trong rẫy, sống xa cách với mọi người để tránh những điều tiếng dị nghị của bà con trong làng.

Dẫu vậy, dù chẳng trọn vẹn được như người thì bây giờ những đứa con ông cũng đã có đất, có nhà từ thành quả lao động của ông. Và sự đền đáp quý giá nhất đời ông là một tình yêu bền chặt giữa ông với người vợ của mình… Ông Vĩ nhìn bà Rmah Thận rồi cắt lời tôi hứng khởi. "Bà ấy dù không được học hành, sống theo lẽ thường của bao người đàn bà ở làng này, đất này. Nhưng với tôi, trong cái vỏ thô tháp ấy là một viên ngọc tình yêu đẹp và sáng, rất đáng quý. Thú thật là những ngày đầu sống chung, không ít lần tôi đã trăn trở về sự lựa chọn của mình, thậm chí đã có lúc tôi định bỏ trốn. Thế nhưng cứ mỗi lần chạm tới ý nghĩ tội lỗi ấy là lại thấy mình hèn. Những tai ương, những nỗi buồn đã qua, nói "trời thương" là thuận miệng chứ không có bà ấy, dễ tôi đã buông xuôi hay "tiêu cực" từ rất lâu rồi.

Rồi bây giờ với 2 ha rẫy cao su và cà phê mỗi năm thu mấy trăm triệu đồng là thành quả lao động bao nhiêu năm trời, tôi đâu phải là cái máy nếu không có tình yêu của bà ấy "điều khiển". Thế nên đã bao lần tôi tự cười mình khi đâu đó người ta xì xầm rằng tôi bị "bỏ bùa". Đúng là tôi đã bị bỏ bùa như thế đấy!". Ông lý giải về cái chuyện ông bị "bỏ bùa yêu" như thế. Rồi ông âu yếm nhìn bà, cái nhìn của sự cảm thông chia sẻ, và có chút hàm ơn. Chẳng biết đã bao nhiêu lần ông nhìn bà như thế, chẳng biết đã bao nhiêu năm ông nói với bà những điều như thế. Nhưng tôi biết rằng những điều ông nói đều là thật. kể cả tình yêu của ông với bà cũng vậy. Nếu không, ông đã không ở với đất này lâu như thế.

Chiều mênh mang buồn trên đại ngàn, tôi cứ nghĩ mãi về câu chuyện cuộc đời của ông Vĩ. Cứ nghĩ về những thân phận người còn sót lại của chiến tranh như ông Đinh Quân Vĩ mà ngậm ngùi. Cũng may sao, ông Vĩ còn được bù trừ những điều tuyệt vời về một gia đình bên dòng sông cổ tích, nếu không cuộc đời ông bi đát quá. Tôi bảo ông giờ thảnh thơi rồi, liên lạc với quê hương bản quán đi, ông ậm ừ bảo sẽ cố. Chắc là nói để yên lòng khách chứ tôi tin ông chẳng chịu làm đâu. Nỗi mặc cảm trong ông vẫn còn quá lớn như thế, dễ gì.
 
Tiêu Dao – Thanh Thảo

Báo Gia đìnhXã hội cập nhật tin tức trong ngày liên tục, mới nhất

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC