Ngày 23 Tháng 1, 2012 | 01:30 PM

Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình: Nỗ lực vì sự phát triển bền vững của đất nước

Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình: Nỗ lực vì sự phát triển bền vững của đất nước

GiadinhNet - Trải qua 50 năm xây dựng và trưởng thành, công tác DS-KHHGĐ Việt Nam đã đạt được những thành công hết sức tốt đẹp.

LTS: 2011 là năm ngành dân số có nhiều hoạt động nổi bật, trong đó đặc biệt là Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành DS-KHHGĐ Việt Nam (26/12/1961 – 26/12/2011). Sự kiện này đánh dấu chặng đường nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành của Ngành DS-KHHGĐ. Nhân dịp đầu năm mới Nhâm Thìn, TS. Dương Quốc Trọng – Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ, Bộ Y tế có những chia sẻ về những hoạt động nói trên cùng những khó khăn, thách thức và những định hướng trong thời gian tới.

TS Dương Quốc Trọng - Tổng cục trưởng Tổng cục DS - KHHGĐ trao cờ lưu niệm cho các đội tham gia giải thể thao nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành DS - KHHGĐ tại Hà Nội tháng 12/2011.
Trải qua 50 năm xây dựng và trưởng thành, công tác DS-KHHGĐ Việt Nam đã đạt được những thành công hết sức tốt đẹp. Năm 2011, đội ngũ những người làm công tác DS-KHHGĐ Việt Nam tự hào kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành DS-KHHGĐ (26/12/1961 – 26/12/2011). Càng tự hào về những thành tích đã đạt được, những người làm công tác dân số càng ý thức rõ về những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong thời gian tới khi triển khai Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
 
Góp phần vào sự phát triển bền vững
 
Nhân dịp năm mới, tôi xin gửi tới các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tới các cấp ủy Đảng, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao; các bộ, ban, ngành, đoàn thể và cộng đồng đã phối hợp, tham gia chặt chẽ đối với công tác DS-KHHGĐ; tới toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số ở khắp các thôn, xóm, bản, làng trên cả nước lời chúc sức khỏe, gia đình hạnh phúc, công việc thành đạt. Chúc sự nghiệp dân số - kế hoạch hóa gia đình tiếp tục đạt được những thành công mới, vì chất lượng giống nòi, vì hạnh phúc và sức khỏe của người dân!
 
TS. Dương Quốc Trọng (Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ)
50 năm nhìn lại một chặng đường, chúng ta đã đạt được những thành công hết sức tốt đẹp. Tổng tỉ suất sinh (số con trung bình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) đã giảm từ 6,4 con vào năm 1960 xuống còn 2 con vào năm 2010, trong khi thế giới chỉ giảm được 2,5 con (từ 5 con xuống 2,5 con). Có thể nói đây là cuộc cách mạng thực sự trong công tác DS-KHHGĐ.
 
Do tỉ suất sinh giảm, tỉ suất chết giảm, nhất là tỉ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi giảm rất mạnh làm cho tuổi thọ trung bình của người dân nước ta tăng lên rõ rệt. Cách đây 50 năm, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam chỉ đạt 40 tuổi, trong khi đó thế giới trung bình là 48 tuổi. Hiện nay, khi tuổi thọ trung bình trên cả thế giới mới đạt 69 tuổi, tăng 21 tuổi thì ở Việt Nam, sau 50 năm tuổi thọ trung bình là 73 tuổi, tăng 33 tuổi. Công tác DS-KHHGĐ đã góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân, vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước... Chúng ta đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, chỉ tiêu về dân số mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, lần thứ X và Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đã đề ra.
 
Nhờ những thành tựu đã đạt được, năm 1999 Việt Nam được Liên Hợp Quốc trao tặng Giải thưởng Dân số. Năm 2010, tại kỳ họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, các cơ quan truyền thông quốc tế đã đánh giá Việt Nam là một trong hai điểm sáng trong 10 năm đầu thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Chúng ta đều biết rằng, những kết quả của công tác DS-KHHGĐ có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hoàn thành các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.
 
Vào những ngày cuối năm 2011, ngành Dân số dồn dập đón nhận những tin vui: Quốc hội đã thông qua Chương trình Mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và đã được Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chủ trì Hội nghị trực tuyến triển khai. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, có tới gần 3.000 người đã trực tiếp tham dự Hội nghị và có thể nói đây là một Hội nghị rất kịp thời và có hiệu quả nhất từ trước tới nay, đã được Phó Thủ tướng biểu dương, khen ngợi. Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc của các thế hệ làm công tác dân số trong những năm qua, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành DS-KHHGĐ Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất và đã được đồng chí Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến dự và gắn Huân chương lên Lá cờ truyền thống của Ngành tại lễ míttinh.
 
Phát huy thành tựu, đón nhận trọng trách mới
 
Ảnh: Dương Ngọc
Tuy đạt được nhiều thành tựu song trong thời gian tới, công tác DS-KHHGĐ đứng trước nhiều khó khăn thách thức với nhiều vấn đề mới nảy sinh. Nếu như trước đây, do sự bức bách của quy mô dân số quá lớn, tốc độ gia tăng dân số quá nhanh nên khi nói đến công tác DS-KHHGĐ, hầu như mọi người đều chỉ nghĩ tới việc giảm sinh nhưng hiện nay, công tác dân số được triển khai theo hướng bao quát và toàn diện hơn. Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đề ra 5 nội dung cần ưu tiên triển khai trong giai đoạn tới, đó là: (1) Tập trung nâng cao chất lượng dân số; (2) Cải thiện tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em; (3) Phát huy lợi thế của giai đoạn cơ cấu “dân số vàng”; (4) Chủ động điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số; (5) Kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh. Đây là những vấn đề vừa mới, vừa khó hơn rất nhiều so với giai đoạn trước, đòi hỏi mỗi người làm công tác dân số phải đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm và cần trau dồi, bổ sung, cập nhật kiến thức mới hoàn thành được những nhiệm vụ được giao.
 
Trước hết, nói về nâng cao chất lượng dân số. Chúng ta biết rằng nội hàm của “chất lượng dân số” rất rộng, từ thể chất đến trí tuệ, tinh thần và những vấn đề về nhân khẩu học... Muốn nâng cao được chất lượng dân số cần có sự tham gia, vào cuộc của rất nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau. Đối với ngành dân số, cần có những giải pháp để nâng cao chất lượng “đầu vào” của quá trình dân số- đó là cần làm những gì có thể để mỗi một đứa trẻ ra đời có được “chất lượng” tốt nhất. Trong mấy năm vừa qua, chúng ta đã thí điểm triển khai một số mô hình như: “Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân”, “Sàng lọc và chẩn đoán trước sinh, sàng lọc và chẩn đoán sơ sinh”; mô hình “Can thiệp giảm tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống của một số dân tộc ít người”; mô hình “Can thiệp giảm tỷ lệ mắc bệnh Thalassemia ở một số dân tộc ít người”... bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp. Trong thời gian tới, chúng ta cần đánh giá, tổng kết, nhân rộng những mô hình và sẽ kiến nghị đưa vào Luật Dân số.
 
Thứ hai, về tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Trong những năm qua, chúng ta cũng đã đạt được những thành tích rất tốt đẹp về công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em cũng như công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản nói chung. Những chỉ số về sức khỏe bà mẹ, trẻ em của nước ta tốt hơn nhiều so với các quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân đầu người như nước ta. Tuy nhiên, chúng ta không thỏa mãn với những thành tích đã đạt được. Hơn nữa, những chỉ số bình quân chung của cả nước là khá tốt nhưng còn sự chênh lệch rất lớn giữa các tỉnh, các vùng miền nhất là các chỉ số như tỷ lệ chết của bà mẹ liên quan đến thai sản, tỷ lệ chết trẻ em, tỷ lệ suy dinh dưỡng,... Vì vậy, cần phấn đấu để cải thiện tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em, nhất là ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa...
 
Thứ ba, Việt Nam đã bước vào giai đoạn cơ cấu “dân số vàng” từ năm 2007. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, cơ cấu “dân số vàng” đóng góp khoảng một phần ba tăng trưởng GDP của quốc gia đó. Vì vậy, chúng ta muốn “đi tắt, đón đầu” theo đường lối của Đảng thì cần phát huy bằng được lợi thế của giai đoạn này. Muốn làm được điều đó, cần phải giải quyết tốt công ăn việc làm cho lực lượng lao động sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới, đồng thời phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng những giải pháp về giáo dục- đào tạo, khoa học- công nghệ để có đủ sức cạnh tranh với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới bằng nguồn nhân lực có chất lượng cao chứ không phải bằng nguồn nhân công rẻ mạt! Đối với ngành dân số, cũng cần có những giải pháp, kiến nghị để có thể kéo dài giai đoạn “dân số vàng” phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
 
Thứ tư, về tốc độ gia tăng dân số. Kết quả của các cuộc Tổng điều tra dân số gần đây của nước ta cho thấy, tỷ lệ gia tăng dân số trung bình hằng năm đã giảm từ 1,7% (giai đoạn 1989-1999) xuống còn 1,2% (giai đoạn 1999-2009), như vậy trung bình giảm tới 0,5%. Vào năm 2010, tỷ lệ gia tăng dân số của nước ta là 1,05%. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Nghị quyết của Quốc hội khóa XIII đã đề ra chỉ tiêu tỷ lệ gia tăng dân số vào năm 2015 khoảng 1% và đến năm 2020 ổn định khoảng 1%. Như vậy trong 10 năm tới, tỷ lệ gia tăng dân số giảm khoảng 0,05% (chỉ bằng một phần 10 giai đoạn vừa qua!). Đây là một sự tính toán, cân nhắc rất thấu đáo, thể hiện sự nhìn xa trông rộng của Đảng ta. Đảng ta đề ra chỉ tiêu về dân số như vậy để đảm bảo trong tương lai chúng ta có một cơ cấu dân số hợp lý, đảm bảo cân đối hài hòa giữa các lứa tuổi, có được một nguồn nhân lực mạnh để đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kéo dài được giai đoạn cơ cấu “dân số vàng” và đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Để làm được điều này, đòi hỏi chúng ta cần rà soát, đánh giá cho đúng thực trạng về mức sinh của từng tỉnh, từng địa phương để có giải pháp cho phù hợp vì hiện nay mức sinh đang còn rất khác nhau giữa các tỉnh và các vùng, miền. Chủ trương định hướng chung là: Với các tỉnh có mức sinh cao, cần có giải pháp quyết liệt để nhanh chóng đạt mức sinh thay thế, tạo điều kiện nâng cao chất lượng dân số; với các tỉnh đã đạt mức sinh thay thế, cần giữ ổn định và duy trì; với các tỉnh dưới mức sinh thay thế, không để cho mức sinh giảm xuống quá thấp, thậm chí có thể điều chỉnh để tiệm cận mức sinh thay thế. Chính vì thế mà Chiến lược lần này đã khẳng định chủ trương “chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số” và đề ra mục tiêu “duy trì mức sinh thấp hợp lý”. Như vậy, trong giai đoạn tới, đòi hỏi cách làm dân số cần phải có những tư duy mới, cách xây dựng kế hoạch cần phải tính toán cụ thể hơn; việc đề ra các giải pháp cần phải linh hoạt, uyển chuyển hơn,... Trong khi thực hiện việc điều chỉnh tốc độ tăng dân số, không được phép coi nhẹ, không được phép lơ là về kế hoạch hóa gia đình, về an ninh các phương tiện tránh thai bởi vì tỷ lệ nạo phá thai của nước ta vẫn còn ở mức cao; hơn nữa trong những năm sắp tới, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ vẫn tiếp tục gia tăng, đến năm 2027-2030 mới đạt mức cực đại, nhu cầu KHHGĐ vẫn tiếp tục tăng.
 
Thứ năm, về kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh. Từ năm 2006, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã trở thành vấn đề “nóng” trên các phương tiện thông tin đại chúng và gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nếu như chúng ta không kiên quyết xử lý sớm vấn đề này thì sẽ để lại những hệ lụy lâu dài về mặt xã hội, thậm chí cả về an ninh, chính trị.
 
Công tác dân số có đặc điểm mang tính chiến lược lâu dài, cần phải có tư duy chiến lược chứ nếu chỉ dừng lại ở việc giải quyết các công việc sự vụ, dừng lại ở mức tư duy nhiệm kỳ thì chúng ta không thể thành công được. Thế hệ hôm nay được đón nhận phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước trao tặng chính là nhờ thành quả của những thế hệ cha anh đã dày công xây đắp. Những gì chúng ta làm tốt ngày hôm nay, các thế hệ mai sau sẽ được thừa hưởng; những gì chúng ta làm chưa tốt hôm nay, ví dụ như để cho tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục gia tăng, các thế hệ con cháu chúng ta sẽ phải chịu hậu quả và chúng ta khó tránh khỏi sự oán trách của con cháu sau này.
 
Như vậy có thể nói, nhiệm vụ của Ngành Dân số trong giai đoạn sắp tới là hết sức nặng nề, khó khăn và phức tạp nhưng tôi có một niềm tin chắc chắn rằng, dưới sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Nhà nước, mà trực tiếp là Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ Y tế; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và tinh thần đoàn kết, kiên định, bền bỉ, nỗ lực và sáng tạo của những người làm công tác dân số trên cả nước, chúng ta sẽ tổ chức thực hiện thành công Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước.
 
TS. Dương Quốc Trọng
Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC