Ngày 14 Tháng 11, 2017 | 01:30 PM

Mất cân bằng giới tính khi sinh: Những hệ lụy đau lòng

Mất cân bằng giới tính khi sinh: Những hệ lụy đau lòng

Mất cân bằng giới tính khi sinh – hiện tượng đã xảy ra ở một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc – nay đang diễn ra ở Việt Nam. Đây là hệ quả của một xã hội “trọng nam, khinh nữ”. Mặc dù Việt Nam đến nay đã có những chuyển biến nhất định nhưng để thoát ra khỏi hệ tư tưởng này là vô cùng khó khăn, không thể ngày một, ngày hai…

Đã có một số người phụ nữ phải phá thai nhiều lần vì kết quả siêu âm cho biết đó là thai nhi gái. Dù không muốn nhưng một số cũng không thể để đẻ vì cả vợ chồng đều hoặc là công chức, trong khi gia đình nhà chồng thúc giục. Phần vì ảnh hưởng của những lần phá thai, phần vì bị áp lực, ám ảnh tội lỗi, nhiều phụ nữ sinh ra stress, trầm cảm.

Cũng chính bởi những áp lực này, nhiều phụ nữ đã phải tính làm sao để có được con trai ngay từ lần đầu tiên sinh nở cho“chắc ăn”. Một người bạn đại học của tôi là một ví dụ. Kết hôn muộn và vào nhà có con một nên áp lực phải có “quý tử nối dõi tông đường” càng lớn. chính vì thế, thay vì công việc ngày ngày đến cơ quan cô tập trung lên mạng tra cứu thông tin để sinh con trai. Cô cũng tranh thủ giờ nghỉ trưa, hoặc hết giờ làm để đi lùng tìm thông tin này… Không chỉ có vậy, chỉ cần nghe loáng thoáng đâu đó có người hỗ trợ thụ thai theo ý muốn là cô tới hỏi han, nhờ tư vấn…

Đây là một thực tế khi rất nhiều bác sỹ sản khoa cho biết, số ca nạo phá thai do thai nhi đó có giới tính nữ, kể cả đối với những người mới có thai lần đầu vẫn có. Còn tình trạng nạo phá thai ở đối tượng đã có một con gái là “chuyện thường ngày”. Có người vừa siêu âm xong là quyết định phá bỏ ngay khi biết thai nhi mang giới tính nữ. Nhiều người chấp nhận bị kỷ luật, đuổi việc… để đẻ cho kỳ được con trai...

Vì sợ mang tai tiếng, họ âm thầm xử lý thai nhi ở những cơ sở y tế tư nhân không đủ điều kiện. Nhiều hậu quả đau lòng đã xảy ra tại các phòng khám “chui” này. Cùng với hành động phá bỏ thai là hàng ngàn, hàng vạn những hệ lụy đau đớn khác mà chúng ta không lường hết được. Theo đánh giá của các chuyên gia, về phía gia đình, không chỉ bản thân người phụ nữ phải chịu những ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe và tinh thần, mà hạnh phúc mỗi gia đình cũng không trọn vẹn khi mang nặng áp lực về điều đó. Về sau này cũng vậy, các nam thanh niên sẽ khó có cơ hội lấy được người vợ như mong muốn và họ sẽ rơi vào cảnh sống độc thân, tâm lý căng thẳng trong quá trình tìm bạn đời… Dưới góc độ xã hội, MCBTSGTKS sẽ gây ra những khó khăn thách thức mới đối với công tác dân số như phải tốn thêm nhiều nhân lực, vật lực cho công tác nghiên cứu, điều tra về tình hình này, đồng thời tăng kinh phí để giải quyết vấn nạn đó.

Nhóm nam giới thì gặp khó khăn trong việc tìm vợ hoặc không thể lấy được vợ, phải duy trì cuộc sống độc thân có thể gây ra những bất ổn về trật tự an toàn ở cộng đồng, làm gia tăng tệ nạn mại dâm, buôn bán trẻ em gái, phụ nữ và các loại tội phạm xã hội khác do nhu cầu tình dục của họ không được đáp ứng…

Thực tế đã cho thấy tình trạng MCBTSGTKS ở nước ta đã đến hồi báo động. Những hệ lụy, hậu quả đã, đang và sẽ tới với chúng ta là vô cùng lớn, nghiêm trọng. Chính vì thế, từ năm 2009, Bộ Y tế mà trực tiếp là Tổng Cục DS – KHHGĐ đã triển khai thí điểm Đề án giảm thiểu MCBTSGTKS tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm về tình trạng này. Không ít hội thảo, hội nghị cũng đã được mở ra để bàn kế sách “hãm” lại sự tăng lên của số trẻ nam.

Nhiều giải pháp khác như truyền thông chuyển đổi hành vi; chuyển đổi cơ cấu kinh tế để đảm bảo an sinh xã hội… cũng được thực hiện để hỗ trợ cho việc lập lại trật tự về giới tính. Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách, việc làm này vẫn chưa thấy rõ ràng bởi vấn đề gốc rễ ở đây là giải quyết vấn đề tư tưởng của người dân, đặc biệt là thay đổi suy nghĩ truyền thống về giới trong họ. Từ đó thay đổi hành vi, không tham gia vào quá trình lựa chọn trước sinh. Mong muốn là như vậy, nhưng từ chỗ nhận thức được đến chuyển đổi hành vi, thay đổi một phong tục, tập quán đã có từ ngàn đời nay là không thể dễ dàng, một sớm một chiều làm được.
Bác sĩ Mai Xuân Phương

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC