Ngày 19 Tháng 11, 2013 | 08:00 AM

Những thách thức do tăng trưởng dân số ở Đông Á

Những thách thức do tăng trưởng dân số ở Đông Á
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Năm 1960, các quốc gia Đông Á phải đối mặt với hai thách thức – cung cấp lương thực cho dân số đang gia tăng nhanh và cung ứng việc làm phù hợp cho lực lượng lao động cũng đang gia tăng nhanh, trong đó phần lớn là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (trừ Nhật Bản và Xinh-ga-po).

Chính sách dân số, dù có hiệu quả thế nào đi nữa, cũng không thể một sớm một chiều đạt được sự ổn định dân số. Tuy nhiên, với một ngoại lệ quan trọng, tăng trưởng dân số đã không gây cản trở đối với những nỗ lực phát triển của Đông Á.

Thách thức về lương thực đã được giải quyết thành công rực rỡ. Mặc dù quỹ đất nông nghiệp bị hạn chế nhưng sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng 36 % ở châu Á và 47% ở Đông Á trong thời kỳ 1963-92. Trong cùng thời kỳ, sản lượng lương thực bình quân đầu người ở Mỹ La tinh chỉ tăng 13% và thậm chí còn giảm 7% ở châu Phi. Thành công của Đông Á là do sản lượng nông nghiệp tăng rất cao. Nhu cầu về lương thực tăng chủ yếu là do gia tăng dân số cộng với giá phân bón giảm đáng kể giúp cho việc phát triển nhiều giống gạo, lúa mì mới có sản lượng cao.
 
Thách thức việc làm ở Đông Bắc Á đã được giải quyết thành công hơn ở Đông Nam Á. Ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc, nơi mà quỹ đất rất hạn chế, những cơ hội việc làm được tạo ra thông qua việc chuyển đổi cơ cấu công nghiệp và cơ cấu ngành nghề. Mặc dù lực lượng lao động nói chung vẫn tăng nhưng lực lượng lao động nông nghiệp giảm 4% mỗi năm ở Nhật Bản, 2% ở Đài Loan và 1% ở Hàn Quốc trong thời kỳ 1960-90. Các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ được mở rộng nhanh chóng đến mức giá trị của đất không còn gắn với việc làm. Thái Lan và In-đô-nê-xia đã có cách giải quyết hơi khác một chút đối với việc gia tăng nhanh của lực lượng lao động. Trong giai đoạn này ở cả hai quốc gia, đất đai canh tác vẫn tăng. Cụ thể, Thái Lan đã tìm cách thu hút số lượng lớn lao động nông nghiệp cùng lúc với việc giảm không đáng kể diện tích đất trồng trọt bình quân đầu người lao động nông nghiệp. Trong số những quốc gia được lựa chọn khảo sát trong nghiên cứu này, chỉ có In-đô-nê-xia đã có sự sụt giảm đáng kể về diện tích đất trồng trọt bình quân đầu người lao động nông nghiệp. Việc làm phi nông nghiệp cũng phát triển rất nhanh ở Thái Lan và In-đô-nê-xia, nhưng năm 1960 các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ còn rất nhỏ đến nỗi sự tăng trưởng nhanh của các quốc gia này không đủ để thu hút số lượng lớn lao động mới. Ở hai quốc gia này, năng xuất lao động trong khu vực nông nghiệp tăng chậm hơn rất nhiều so với trong khu vực phi nông nghiệp. Điều này không những chỉ là trở ngại cho tăng trưởng kinh tế mà còn là nguồn gốc của bất bình đẳng.
 
Hồi cứu lại, chính những e ngại về ảnh hưởng của phát triển đối với tăng trưởng dân số đã bị cường điệu hóa ở Đông Á. Dân số tăng trưởng đáng kể ở Đông Bắc Á không có những tác động bất lợi đối với kinh tế và thực tế này đã được chỉ ra một cách rõ ràng và ở Nam Á chỉ có những khó khăn vừa phải. Tuy nhiên, cần lưu ý một số điểm.
 
Thứ nhất là những tác động bất lợi của tăng trưởng dân số có thể tránh được, một phần là do trên thực tế tăng trưởng dân số đã chậm lại trong suốt giai đoạn này.
 
Thứ hai, tuy kết quả thuận lợi ở Đông Á không phải là tất yếu, nhưng đó là sự kết hợp của chính sách phát triển có hiệu quả với môi trường kinh tế thuận lợi. Kinh nghiệm Đông Á về sự đổi mới nông nghiệp chứng minh cho quan điểm này. Thậm chí, trong nửa đầu của thập niên 60, dân số đã tăng đáng kể, giá phân bón giảm, các giống cao sản đã thích nghi với vùng ôn đới và đã đạt được nhiều tiến bộ lớn mặc dù những nỗ lực vừa phải. Tuy nhiên, việc tăng sản lượng không gây ấn tượng sâu sắc cho đến sau năm 1965, khi đưa ra một quyết định xã hội nhằm đầu tư cho nghiên cứu mà lẽ ra đã không xảy ra. Bên cạnh đó, so với các khu vực khác trên thế giới, châu Á có những hệ thống vận chuyển và tưới tiêu phát triển khá tốt. Đây chính là những nhân tố cơ bản của cách mạng xanh. Cả hai việc: nỗ lực nghiên cứu và hệ thống cơ sở hạ tầng đều đòi hỏi phải có những thể chế chính trị có thể nhận biết và đáp ứng một cách có hiệu quả những nhu cầu của cộng đồng.
 
Thứ ba là sự thay đổi nhanh chóng của cơ cấu tuổi, sinh đẻ và tuổi thọ bình quân đã tạo ra những cơ hội tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn ở Đông Á ngay cả khi tăng trưởng dân số chậm đi. Những cơ hội này thể hiện dưới ba dạng: Sự khác biệt khá lớn giữa tăng trưởng dân số và tăng trưởng lực lượng lao động tiềm năng; những thay đổi trong chính sách khuyến khích và cơ cấu tuổi tạo điều kiện thuận lợi giúp cho tỷ lệ tích luỹ và đầu tư cao hơn; và những thay đổi trong chính sách khuyến khích và cơ cấu tuổi đã giúp cho đầu tư nhiều hơn cho nguồn nhân lực. Phần chính của câu chuyện thành công của Đông Á chính là cách mà khu vực này đã nắm bắt các cơ hội.
 
Andrew Mason
Giáo sư kinh tế, Khoa Kinh tế, Đại học Hawai, và ủy viên cao cấp của Trung tâm Đông-Tây, Honolulu.(Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC