Ngày 27 Tháng 12, 2012 | 03:58 PM

Những hạn chế của chương trình KHHGĐ của Hàn Quốc

Những hạn chế của chương trình KHHGĐ của Hàn Quốc
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Yếu tố tác động chủ yếu đến mức sinh ở Hàn Quốc là việc kết hôn muộn ở phụ nữ.

Xu hướng kết hôn muộn đã liên quan trực tiếp đến luồng di cư lớn của phụ nữ trẻ, độc thân từ các vùng nông thôn ra thành thị và việc tăng cơ hội việc làm tại các nhà máy đô thị và lĩnh vực dịch vụ. Những biến đổi này đã dẫn đến tính độc lập ngày càng lớn của phụ nữ độc thân và nới lỏng kiểm soát của cha mẹ và xã hội đối với những hoạt động tình dục trước hôn nhân.
 
Theo kết quả khảo sát được thực hiện năm 1992, khoảng 70% phụ nữ trẻ làm việc trong ngành công nghiệp giải trí và 30% làm việc tại các ngành sản xuất trong các khu công nghiệp đã sinh hoạt tình dục trước hôn nhân (Kwon, Jun và Cho 1997, 43-44). 

Những phụ nữ trẻ mà trong số đó có cả lứa tuổi thanh niên, đang đối mặt với những rủi ro cao về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục cũng như rủi ro mang thai trước hôn nhân và nạo phá thai. Họ ít được tiếp cận với giáo dục tình dục và thông tin phù hợp về tránh thai trước khi có trải nghiệm tình dục đầu đời, thông thường là tình cờ.
 
Chương trình KHHGĐ không chú trọng nhiều cho lứa tuổi thanh niên và phụ nữ trẻ chưa lập gia đình, mặc dù nhu cầu cần được trợ giúp ngày càng tăng ở nhóm này đã được dự báo trước. Sinh hoạt tình dục không có sự chuẩn bị thường dẫn đến mang thai và hầu hết các trường hợp mang thai trước hôn nhân đều được giải quyết bằng nạo phá thai do áp lực của định kiến xã hội nặng nề về việc không chồng mà có con đối với phụ nữ độc thân và con cái của họ.
 
Các chính sách hỗ trợ xã hội thường được nhắc đến như một trong những điểm mạnh của chương trình. Tuy nhiên, trên thực tế có rất ít bằng chứng chứng minh tác động của các chính sách này đối với mức sinh và các chính sách không phù hợp với khái niệm phúc lợi gia đình và xã hội. 

Hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các gia đình có dưới hai con không đủ để thúc đẩy các cặp vợ chồng coi con cái như một “mặt hàng thương mại” thay vì một “tài sản tuyệt đối”. Chẳng hạn như quyền được đăng ký nhà ở thuộc sở hữu nhà nước không phải là một ưu đãi hấp dẫn vì người dân Hàn Quốc muốn được tự sở hữu nhà ở, một tài sản rất quan trọng đối với họ và là một biểu tượng đảm bảo cuộc sống. 

Giảm thuế thu nhập cho gia đình có hai con và miễn phí các dịch vụ y tế công cộng cho mẹ và con đối với gia đình có một con cũng không tạo nên sự khích lệ trong việc hạn chế quy mô gia đình. Những lợi ích về thuế được hưởng là rất nhỏ so với mức thu nhập, chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và y tế công cộng của chương trình thấp hơn rất nhiều so với các dịch vụ tư nhân. 

Do giá trị tình cảm đối với con cái ngày càng tăng gắn với việc giảm quy mô gia đình, những hỗ trợ xã hội này dường như không có ảnh hưởng nhiều đến hành vi sinh đẻ của các cặp vợ chồng.
 
Hơn nữa, nếu suy nghĩ rằng một gia đình quy mô lớn khiến cho cuộc sống của những gia đình nghèo khó khăn hơn so với các gia đình khá giả, những ưu đãi trên của chương trình nhằm hạn chế mức sinh có thể được hiểu là sự trừng phạt đối với các gia đình nghèo hơn bằng cách tước bỏ các phúc lợi xã hội của họ.
 
Chương trình KHHGĐ Hàn Quốc thiếu phúc lợi và công bằng xã hội thực sự, chủ yếu là do các nhà khoa học xã hội chưa tham gia nhiều trong công tác hoạch định chính sách của chương trình.
 
Giáo sư xã hội học Tai-Hwan Kwon
Khoa xã hội học, Đại học Quốc gia Seoul
Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC