Ngày 18 Tháng 11, 2013 | 08:00 AM

Những chính sách và chương trình dân số ở Đông Á

Những chính sách và chương trình dân số ở Đông Á

GiadinhNet - Chính phủ các quốc gia và các học giả ở Đông Á đã tự mình đánh giá và đưa ra kết luận rằng nếu dân số tiếp tục gia tăng nhanh sẽ là trở ngại lớn đối với các mục tiêu phát triển.

Về mặt lịch sử, các quốc gia Đông Á vẫn theo đuổi tư tưởng và chính sách khuyến sinh cho đến nửa sau của thế kỷ XX. Chính phủ Meiji của Nhật Bản đã không những nghiêm cấm các hành vi đe doạ tính mạng của trẻ em, nạo phá thai mà còn cấm sản xuất và phân phối phương tiện tránh thai vì Chính phủ này coi đông dân là yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh quân sự và kinh tế của Nhật Bản. Tôn Trung Sơn, người sáng lập Cộng hoà Trung Hoa tin tưởng rằng làm giảm tốc độ tăng trưởng dân số sẽ làm giảm sức mạnh của dân tộc. Chính phủ Thái Lan đã thưởng tiền cho những gia đình đông con từ cuối năm 1956. Ở In-đô-nê-xia, tổng thống Su-các-nô không quan tâm đến việc dân số gia tăng nhanh và những nỗ lực kế hoạch hoá gia đình không được giáo chức và cộng đồng chấp nhận rộng rãi.

Cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, những tư tưởng ủng hộ việc đông dân đã nhường chỗ cho những quan ngại về hậu quả và hệ luỵ của việc gia tăng nhanh dân số. Mặc dù có một vài nhóm chính trị gia phản đối nhưng Chính phủ các quốc gia vẫn khởi xướng một cách thận trọng những nỗ lực nhằm giảm tỷ lệ gia tăng dân số. Chính phủ các quốc gia bắt đầu dỡ bỏ những rào cản pháp lý đối với việc giảm sinh. Nhật Bản dẫn đầu khuynh hướng này, đã hợp pháp hoá việc sản xuất, phân phối hầu hết các loại thuốc và phương tiện tránh thai của các công ty tư nhân. (Tuy nhiên, gần đây viên uống tránh thai mới được hợp pháp hoá)

Năm 1948, thực chất Nhật Bản đã hợp pháp hoá dịch vụ nạo phá thai, cho phép thực hiện thủ thuật nếu thai kỳ đe doạ sức khoẻ hoặc tình trạng kinh tế của phụ nữ mang thai. Năm 1961, Hàn Quốc đã bãi bỏ điều luật cấm nhập khẩu hoặc sản xuất phương tiện tránh thai. Ở In-đô-nê-xia, Bộ Y tế bãi bỏ việc cấm phân phối phương tiện tránh tránh thai trong thập niên 60. Chính phủ các quốc gia đã vào cuộc cùng với các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực kế hoạch hoá gia đình mới được thành lập trong khu vực. Các tổ chức tư nhân như Hội Dân số và Phát triển Cộng đồng của Thái Lan, Quỹ KHHGĐ của In-đô-nê-xia và Hội KHHGĐ của Hàn Quốc đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn quá độ này.

Với những tốc độ nhập cuộc khác nhau, Chính phủ ở các quốc gia trong khuôn khổ của nghiên cứu này đã can thiệp ngày một nhiều trong các chính sách và chương trình dân số. Các nhóm chính trị và tôn giáo chủ yếu đã thừa nhận tầm quan trọng của việc giảm tốc độ tăng trưởng dân số đối với phát triển. Chính phủ các quốc gia cũng đã phê duyệt các kế hoạch phát triển quốc gia với những chỉ tiêu cụ thể về giảm gia tăng dân số. Họ đã khởi xướng các cuộc vận động để tuyên truyền về tầm quan trọng của việc sinh ít con hơn đối với các cặp vợ chồng. Bằng những nỗ lực giáo dục ở cả cộng đồng và trong trường học, Chính phủ các quốc gia đã tuyên chiến với tình trạng thiếu hiểu biết về những biện pháp tránh thai hiện đại. Để phương tiện tránh thai có ở mọi nơi, các phòng khám kế hoạch hoá gia đình và các hệ thống phân phối đã được thiết lập (phần lớn các dịch vụ được trợ giá là chính).

Trước hết các quốc gia tập trung nỗ lực cho giáo dục, tuyên truyền và tăng khả năng tiếp cận phương tiện tránh thai. Tuy nhiên, đầu thập niên 70, Chính phủ một số quốc gia đã thực hiện những chính sách “vượt ra ngoài khuôn khổ của kế hoạch hoá gia đình”. Xinh-ga-po đã ban hành một loạt chính sách thưởng phạt tổng thể và ở một vài nơi trong khu vực cũng có những nỗ lực tương tự. Hầu hết là những chính sách khuyến khích bằng tiền, ngoài ra còn có một số chính sách khác nhằm giải quyết tận gốc nguyên nhân xã hội của mức sinh cao. Ví dụ như ở Hàn Quốc, những đổi mới về tư pháp nhằm giải quyết những quan niệm sai lầm về giới với hy vọng làm thay đổi mong muốn có con trai của các cặp vợ chồng, qua đó làm giảm mức sinh. Tuy nhiên, ở các quốc gia được khảo sát trong nghiên cứu này, các giải pháp dân số đã bị gỡ bỏ sau một thời gian ngắn không giống như các chương trình mang tính áp đặt, cưỡng bức, ví dụ như các chiến dịch triệt sản thảm bại ở Ấn Độ và chính sách một con ở Trung Quốc.

Điều gì đã khiến các nước châu Á đang phát triển phản ứng nhanh và dứt khoát với việc gia tăng nhanh dân số? Và tại sao phản ứng này lại nhanh hơn rất nhiều so với các khu vực đang phát triển khác? Một phần câu trả lời nằm trong những điều kiện dân số liên tục thay đổi. Châu Á là khu vực đông dân nhất thế giới và tỷ lệ tăng trưởng dân số không ngừng tăng trong thập niên 50 và 60. Quan điểm đông dân sẽ góp phần làm tăng sức mạnh quốc gia bắt đầu bị thay thế. Các nhà lãnh đạo chính trị và trí thức chịu ảnh hưởng một phần của những quan điểm của phương Tây. Các học giả phương Tây tham gia các hoạt động tái thiết Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản đã bày tỏ những quan ngại, lo âu về tình trạng gia tăng nhanh dân số. Thí dụ, nhà hoạt động trong lĩnh vực kế hoạch hoá gia đình, Margaret Sanger là một khách mời thường xuyên và có ảnh hưởng ở Nhật Bản.

Tuy nhiên, Chính phủ các quốc gia và các học giả ở Đông Á đã tự mình đánh giá và đưa ra kết luận rằng nếu dân số tiếp tục gia tăng nhanh sẽ là trở ngại lớn đối với các mục tiêu phát triển. Có một vài yếu tố khác khiến Chính phủ các quốc gia hưởng ứng một cách nhanh chóng và mạnh mẽ với chính sách dân số ở châu Á. Trước hết, trái ngược với châu Mỹ La-tinh, Chính phủ một số quốc gia châu Á phải đối mặt với sự phản đối quyết liệt từ các nhóm tôn giáo có thế lực. Nhà thờ Thiên chúa giáo ở Phi-líp-pin, các lãnh tụ đạo Hồi ở Pa-kít-xtan có ảnh hưởng đáng kể trong việc chống đối sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại. Tuy nhiên, tại các nước được khảo sát không vấp phải những phản đối với kế hoạch hoá gia đình từ các lực lượng tôn giáo hoặc nếu có chỉ là ngầm chống đối. Ngay cả ở In-đô-nê-xia, một quốc gia Đạo Hồi lớn nhất thế giới, những người đứng đầu tôn giáo cũng không phản đối quyết liệt những quyết định của tổng thống Su-hắc-tô nhằm thúc đẩy những nỗ lực kế hoạch hoá gia đình .

Thứ hai, các quốc gia châu Á ổn định chính trị nhiều hơn so với hầu hết các quốc gia châu Mỹ La-tinh và châu Phi. Bởi vậy, Chính phủ các quốc gia này mới có thể theo đuổi những mục tiêu lâu dài một cách thực tế. Ở Hàn Quốc, tổng thống Pắc-Chung-Hy đã cầm quyền suốt 18 năm sau khi tuyên bố ủng hộ việc làm chậm đà gia tăng dân số. Ở Đài Loan, tổng thống Tưởng Giới Thạnh giữ vị trí này từ năm 1950 đến năm 1975. Lý Quang Diệu làm thủ tướng Xinh-ga-po từ năm 1959 đến năm 1990. Trước cuộc khủng hoảng chính trị và tài chính gần đây, In-đô-nê-xia chỉ có hai nguyên thủ là Su-các-nô cầm quyền từ năm 1945 đến năm 1966 và Su-hắc-tô duy trì quyền lực của mình hơn ba thập niên. Trong sáu quốc gia được khảo sát, chỉ có Thái Lan liên tục thay đổi nội các, nhưng chế độ quân chủ ở Thái Lan vẫn có ảnh hưởng liên tục và ổn định. Sự thay đổi chính trị của Thái Lan thường tương đối hoà bình và không kèm theo những thay đổi về đường lối. Mặc dù các nhà lãnh đạo chính trị cứng rắn trong khu vực cho phép chuyển đổi rất nhanh chóng trong chính sách dân số song không đảm bảo bằng những giải pháp để có được kết quả mong muốn. Một số chính sách cụ thể được ban hành phụ thuộc vào quan điểm của giới lãnh đạo quốc gia. Ví dụ như, chỉ có thể thay đổi chính sách ở In-đô-nê-xia khi tổng thống Su-các-nô không còn đảm nhiệm vị trí này.

Thứ ba, Chính phủ nhiều quốc gia châu Á có khuynh hướng cánh tả. Chính phủ Ấn Độ, Xơ-ri-lan-ka, các quốc gia theo chế độ cộng sản và một số quốc gia châu Á khác trực tiếp can thiệp vào nhiều vấn đề tiểu tiết của nền kinh tế và các vấn đề xã hội. Các quốc gia được khảo sát ở Đông Á đã tránh được những hậu quả thảm khốc của nền kinh tế mệnh lệnh, nhưng Chính phủ của các quốc gia này lại sa đà vào quản lý kinh tế nhiều hơn so với các Chính phủ phương Tây đồng thời cũng tích cực nhiều hơn trong giải quyết những vấn đề xã hội.

Những chương trình kế hoạch hoá gia đình ở Đông Á có thể là những chương trình được điều hành tốt nhất thế giới. Trong một thời gian rất ngắn, các quốc gia này đã phát triển rộng rãi mạng lưới cung cấp các dịch vụ tránh thai với chi phí khiêm tốn. Những chương trình ở Đài Loan, Hàn Quốc và Thái Lan đã thành công như những mô hình mẫu cho các nước khác học tập. Tsui cho rằng thành công của các quốc gia này là do bốn yếu tố. Thứ nhất, mặc dù mục tiêu hàng đầu của Chính phủ các quốc gia là hạn chế gia tăng nhanh dân số song các chính sách và chương trình vẫn đặt trọng tâm vào những mục tiêu kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ. Thứ hai, các nhóm tôn giáo và các nhóm có quyền lực chính trị khác không phản đối quyết liệt các chương trình. Thứ ba, Chính phủ các quốc gia đã duy trì những nỗ lực lớn và liên tục, bao gồm cả việc tài trợ đáng kể về tài chính. Cuối cùng là Chính phủ các quốc gia này đã vào cuộc một cách tự nguyện và phối hợp với các thực thể phi chính phủ thực hiện thành công.

Mặc dù các quốc gia thành công trong các mục tiêu của chương trình nghị sự đặt ra tại các hội nghị, nhưng khó mà đánh giá được hiệu quả, tác động của các chính sách và chương trình dân số đối với các kết quả dân số– nghĩa là, xác định tốc độ giảm sinh trong điều kiện không có sự can thiệp của Chính phủ. Tất cả các quốc gia được khảo sát đều đang trong thời kỳ phát triển nhanh về kinh tế và xã hội nhanh chóng. Mức chết trẻ em giảm xuống; tỷ lệ phụ nữ có việc làm tăng lên; tiền công cao; phụ nữ có nhiều cơ hội giáo dục hơn và hàng loạt các nhân tố phát triển khác đã góp phần thay đổi những quan điểm về sinh đẻ. Có thể các mô hình sinh đã thay đổi nhiều với tốc độ khá nhanh là do những sáng kiến của Chính phủ song không dễ dàng gì khi đánh giá những sáng kiến đó đã tác động như thế nào. Tương tự như vậy, rất khó xác định liệu có thể thực hiện kiểm soát sinh hiệu quả hơn, an toàn và ít tốn kém hơn vì là các chương trình của Chính phủ không? Khi phân tích các yếu tố quyết định giảm mức sinh, Tsui ước tính mức đóng góp của kế hoạch hoá gia đình và các yếu tố phát triển. Bà kết luận rằng tổng tỷ suất sinh ở các nước đang phát triển khác trên thế giới sẽ giảm được 1 con từ năm 1982 nếu như các quốc gia này cũng thực hiện các chương trình kế hoạch hoá gia đình như ở các quốc gia được khảo sát ở Đông Á.

Thành công của các chính sách dân số ở Đông Á đạt được nhờ có nguồn chi. Các tác giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau về tầm quan trọng của viện trợ từ bên ngoài. Liu tin rằng ở Đài Loan trợ giúp từ bên ngoài đóng vai trò hết sức quan trọng vì vấn đề gây tranh luận xoay quanh bản chất của chương trình kế hoạch hoá gia đình chứ không phải là vấn đề chi phí. Đầu tư tài chính công cho kế hoạch hoá gia đình chỉ được thực hiện ở Đài Loan vào năm 1968. Kwon tin rằng trợ giúp bên ngoài là hết sức quan trọng đối với những nỗ lực của Hàn Quốc vì những thúc ép về tài chính. Tất nhiên, Hàn Quốc năm 1961 nghèo hơn nhiều so với Đài Loan năm 1968. Khi các quốc gia Đông Á đã phát triển, tuy trợ giúp từ bên ngoài giảm nhưng tài trợ cho chương trình kế hoạch hoá gia đình từ Chính phủ và những người sử dụng lại tăng lên. Thông tin có giá trị nhất thừa nhận rằng kinh phí hàng năm dành cho kế hoạch hóa gia đình bình quân đầu người khoảng 20 xu Mỹ vào giữa thập niên 70 và tăng lên khoảng 1 đôla Mỹ vào đầu thập niên 90. Ở Xinh-ga-po và Hàn Quốc, chi phí công đạt đỉnh điểm trong thập niên 80 và trong những năm gần đây đã giảm đáng kể vì ngày càng nhiều cặp vợ chồng quay sang sử dụng các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình của khu vực tư nhân. Chưa khi nào chi phí cho kế hoạch hoá gia đình chiếm tỷ trọng lớn trong tổng ngân sách nhà nước. Ví dụ như ở Thái Lan mức đòi hỏi cao nhất từ ngân sách là vào năm 1977, song chi phí cho kế hoach hoá gia đình cũng chỉ chiếm 0,38% tổng chi của Chính phủ. Chi phí cho kế hoạch hoá gia đình ở In-đô-nê-xia chiếm 0,6% ngân sách Chính phủ năm 1986 - 1987. Rõ ràng rằng ngân quỹ cho các chương trình dân số không phải là một gánh nặng tài chính lớn đối với các quốc gia Đông Á.
 
Andrew Mason
Giáo sư kinh tế, Khoa Kinh tế, Đại học Hawai, và ủy viên cao cấp của Trung tâm Đông-Tây, Honolulu.
(Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC