Ngày 18 Tháng 12, 2012 | 06:13 PM

Luật phát triển dân số và gia đình hạnh phúc Indonesia (5)

Luật phát triển dân số và gia đình hạnh phúc Indonesia (5)
  MỚI NHẤT

GiadinhNet -Nhằm thực hiện việc phát triển gia đình hạnh phúc, chính phủ chế định chính sách để thực thi sinh đẻ có kế hoạch.

Chương VI.

PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC

Điều 15.

1. Chính phủ chế định chính sách nhằm nâng cao chất lượng gia đình và được xác lập thông qua lập pháp.

2. Chế định chính sách nêu trong khoản 1 là nhằm đạt đến chất lượng gia đình có đặc trưng tự lực cánh sinh và khả năng thích ứng, từ đó làm cho gia đình trở thành nguồn tài nguyên nhân lực tiềm tàng, trở thành người sử dụng và người bảo vệ môi trường, trở thành người khai thác quan hệ hài hoà với môi trường, để thực hiện sự phát triển liên tục.

3. Chính sách nêu trong khoản 1 được thực thi thông qua tăng cường gia đình và phục vụ gia đình.

Điều 16.

1. Nhằm thực hiện việc phát triển gia đình hạnh phúc, chính phủ chế định chính sách để thực thi sinh đẻ có kế hoạch.

2. Chính sách nêu trong khoản 1 thực thi bằng cách thông qua mở rộng việc kết hợp và tham gia của xã hội, tăng cường gia đình và hạn chế sinh đẻ, đồng thời xem xét đến chuẩn mực tôn giáo, xem xét đến sự nhịp nhàng, nhất trí và cân đối giữa số lưọng dân số với môi trường và sức chịu đựng, xem xét đến các nhân tố tình trạng phát triển kinh tế xã hội, văn hoá xã hội và hệ thống giá trị xã hội.

3. Chính sách nêu lên trong khoản 1 liên quan với quyết định số con lý tưởng, khoảng cách giữa các lần sinh, tuổi kết hôn lý tưởng và tuổi sinh con lý tưởng.

4. Chính sách nêu trong khoản 3 chia thời kỳ chế định trên cơ sở của khoản 2 đề cập.

Điều 17. Hạn chế sinh đẻ đề cập trong khoản 2 Điều 16 được thực hành thông qua phương pháp có hiệu quả, nhất trí với sự lựa chọn của đôi bên vợ chồng và được vợ chồng chấp nhận.

Điều 18. Với lương tâm và tinh thần trách nhiệm đối với người đương thời và hậu thế, vợ chồng có thể quyết định kế hoạch và khống chế số con cái sinh đẻ và khoảng cách sinh đẻ.

Điều 19. Đôi bên vợ chồng được hưởng quyền lợi, nghĩa vụ như nhau và địa vị bình đẳng về việc quyết định phương pháp hạn chế sinh đẻ.

Điều 20.

1. Sử dụng thuốc, dụng cụ và phương pháp tránh thai có khả năng không có lợi cho sức khoẻ phải do nhân viên y tế có đủ tư cách tiến hành hoặc dưới sự hướng dẫn của họ.

2. Biện pháp nêu trong khoản 1 phải căn cứ vào tiêu chuẩn nghề nghiệp sức khoẻ quy định trong luật pháp, pháp quy hiện hành để thực hiện.

Điều 21. Trưng bày và biểu diễn thuốc dụng cụ, phương pháp tránh thai chỉ có thể do nhân viên làm công tác sinh đẻ có kế hoạch tiến hành ở nơi thích hợp với cách thức thích hợp.

Điều 22.

1. Thể theo nguyên tắc cung cầu cân đối và phục vụ phân phối bình đẳng, chính phủ quản lý việc cung cấp và phân phối thuốc, dụng cụ tránh thai.

2. Chính phủ và xã hội căn cứ theo luật pháp, pháp quy hiện hành để tiến hành nghiên cứu khoa học và khai thác thuốc, dụng cụ và phương pháp tránh thai.

Điều 23.

1. Để xúc tiến mô thức gia đình nhỏ hạnh phúc, thịnh vượng, Chính phủ ra sức cải thiện:

a. Mở rộng, viện trợ dịch vụ hạn chế sinh đẻ và dịch vụ tại chỗ hạn chế sinh đẻ.

b. Cung cấp bộ máy và hạ tầng cơ sở cần thiết cho việc phục vụ tránh thai.

c. Dịch vụ tư vấn liên quan đến tuổi tác kết hôn và tuổi tác sinh đẻ lý tưởng.

2. Điều khoản nêu trong khoản 1 sẽ được xác lập thông qua lập pháp.
 
(Lệnh Tổng thống công bố ngày 16/4/1992)
Võ Anh Dũng
Trung tâm Thông tin - Tư liệu - Tổng cục DS- KHHGĐ tổng hợp
 

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC