Ngày 13 Tháng 11, 2013 | 01:20 PM

Luật phát triển dân số và gia đình hạnh phúc của Indonesia

Luật phát triển dân số và gia đình hạnh phúc của Indonesia
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Luật dân số của Indonesia có hiệu lực từ ngày 16/4/1992 tập trung vào việc khống chế số lượng dân số, nâng cao chất lượng dân số và phát triển gia đình hạnh phúc.

Chương I

NGUYÊN TẮC CHUNG

Điều 1.Theo định nghĩa của luật này

1. “Người dân” là chỉ người cư trú ở một nơi trên lãnh thổ tại một thời điểm nhất định, là cá nhân, thành viên gia đình, thành viên xã hội, công dân và thành viên trong một cộng đồng.

2. Dân số là vấn đề liên quan đến quy mô, đặc trưng chủ yếu, tăng trưởng, phân bổ, di cư, chất lượng dân số và những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, tôn giáo tín ngưỡng và tình trạng môi trường liên quan đến nó.

3. “Phát triển dân số” là chỉ toàn bộ hoạt động liên quan đến thay đổi tình trạng dân số bao gồm các mặt số lượng, chất lượng, lưu động dân số, những mặt đó đều ảnh hưởng đến tiến trình phát triển và môi trường.

4. “Chất lượng dân số” là chỉ tình trạng vật chất và phi vật chất và sự phục tùng thần linh của dân số, đó là cơ sở để phát triển khả năng và hưởng thụ cuộc sống văn minh, tôn nghiêm và chính thống.

5. “Tự lực cánh sinh” là chỉ thái độ tư tưởng của con người phát huy lớn nhất khả năng và tiềm lực vì lợi ích của bản thân mình và vì phát triển.

6. “Cộng đồng yếu kém” là chỉ những người do tình trạng thân thể hoặc phi thân thể mà ở mức độ khác nhau không có hoặc rất ít có cơ hội để phát huy đầy đủ tiềm lực của bản thân mình.

7. “Lưu động dân số” là chỉ sự di động thời gian và không gian của dân số vượt qua khu vực hành chính.

8. “Phân bố dân số” là chỉ tình trạng phân bố dân số trong không gian.

9. “Phân bố dân số” là chỉ sự nỗ lực thay đổi phân bố dân số để đạt đến sự hài hoà, nhất trí và cân đối với lượng chịu đựng và sức chịu đựng của môi trường.

10. “Gia đình” là chỉ đơn vị nhỏ nhất của xã hội nó bao gồm chồng và vợ; hoặc chồng, vợ và con; hoặc cha và con; hoặc mẹ và con.

11. “Gia đình hạnh phúc” là chỉ gia đình xây dựng trên cơ sở hôn nhân hợp pháp, có thể cung cấp nhu cầu tinh thần và vật chất đầy đủ, tôn thờ chân chúa, có thể duy trì quan hệ hài hoà, nhất trí và cân đối giữa thành viên xã hội và môi trường.

12. “Sinh đẻ có kế hoạch” là chỉ sự nỗ lực tăng cường sự quan tâm của toàn xã hội và tham gia vào kết hôn muộn, hạn chế sinh đẻ, phát triển khả năng thích ứng gia đình, cải thiện phúc lợi gia đình, từ đó thực hiện một gia đình nhỏ hạnh phúc, sung túc.

13. “Chất lượng gia đình” là chỉ tình trạng của gia đình, nó bao gồm giáo dục, sức khoẻ, kinh tế, văn hoá xã hội, tự lực cánh sinh của gia đình và cả quna điểm giá trị về các mặt tư tưởng, tinh thần và tôn giáo... Đó là những cơ sở để thực hiện gia đình hạnh phúc.

14. “Tự lực cánh sinh của gia đình” là chỉ trên cơ sở tự giác và nghĩa vụ, tăng cường thái độ tư tưởng của xã hội quan tâm khai thác và nâng cao sự phát triển, kết hôn muộn, khả năng thích ứng của gia đình, khoảng cách sinh đẻ và nâng cao chất lượng gia đình và làm cho gia đình phồn vinh

15. “Khả năng thích ứng của gia đình” là chỉ gia đình có năng lực vật chất và năng lực trí óc, chân tay đạt đến trạng thái tự lực cánh sinh và phát triển gia đình để đạt được một cuộc sống hài hoà, từ đó tăng cường phồn vinh vật chất và hạnh phúc gia đình.

16. “Mô thức gia đình nhỏ hạnh phúc, sung túc” là chỉ quan điểm giá trị nhất trí với chuẩn mực tôn giáo, văn hoá xã hội vốn có trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội, mục tiêu của nó là đạt được cuộc sống hạnh phúc có số con lý tưởng, từ đó đạt đến phồn vinh vật chất và hạnh phúc tinh thần.

17. “Môi trường” là một thực thể không gian bao gồm các loại vật thể, tiềm năng, tình trạng và khối sinh vật, bao gồm nhân loại và hành vi của nhân loại, co sthể ảnh hưởng đến kéo dài tính mệnh và hạnh phúc của nhân loại và khối sinh vật khác.

18. “Sức chịu đựng của tự nhiên” là chỉ khả năng của tự nhiên và các loại tài nguyên vật chất của nó co sthể nuôi dưỡng lâu dài cho nhân loại và khối sinh vật khác sinh tồn.

19. “Sức chịu đựng của môi trường nhân tạo” là chỉ năng lực môi trường nhân tạo duy trì sinh kế của nhân dân.

20. “Sức đảm đương của môi trường xã hội” là chỉ năng lực của nhân loại và cộng đồng người khác nhau cùng sống trong một xã hội hài hoà, nhất trí, cân đối, thiện chí, an toàn, có trật tự.

Chương II

NGUYÊN TẮC VÀ MỤC TIÊU

Điều 2. Công tác quản lý phát triển dân số và gia đình hạnh phúc xây dựng trên cơ sở nguyên tắc toàn thể người dân mưu cầu cuộc sống hài hòa, mưu mưu cầu lợi ích và không ngừng phát triển.

Điều 3.

1. Định hướng phát triển dân số là khống chế quy mô dân số, nâng cao chất lượng dân số, hướng dẫn dân số di cư để dân số trở thành nguồn tài nguyên nhân lực tiềm tàng, tăng cường phát triển và khả năng thích ứng của quốc gia, đem lại lợi ích tối đa cho người dân và nâng cao sự tôn nghiêm của con người trên mọi mặt.

2. Định hướng phát triển gia đình hạnh phúc là thông qua công tác sinh đẻ có kế hoạch nâng cao chất lượng gia đình, từ đó xây dựng gia đình quy mô nhỏ hạnh phúc, thịnh vượng.

Điều 4.

1. Mục tiêu của phát triển dân số là đảm bảo hài hoà, cân đối giữa số lượng, chất lượng, phân bố của dân số và môi trường.

2. Mục tiêu của phát triển gia đình hạnh phúc là nâng cao chất lượng gia đình, tạo cảm giác an toàn, hoà hợp và hạnh phúc cho mọi thành viên hướng tới tương lai tốt đẹp, giàu có cả về vật chất và tinh thần, hạnh phúc.

Chương III

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ

Điều 5.

1. Mọi người đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong công tác dân số và phát triển gia đình hạnh phúc.

2. Quyền và nghĩa vụ của mọi người đề cập trong khoản 1 bao gồm các vai trò khác nhau của mỗi người: cá nhân, thành viên gia đình, thành viên xã hội, công dân và thành viên của cộng đồng.

Điều 6. Quyền của mỗi người ứng với mỗi vai trò xã hội.

1. Quyền của cá nhân: Bao gồm quyền lập gia đình, quyền tự nâng cao và nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, quyền định cư hoặc di chuyển đến một môi trường hài hoà hợp, cân đối, phù hợp với nhu cầu và năng lực của cá nhân.

2. Quyền của thành viên xã hội: Bao gồm quyền phát huy của cải văn hoá cá nhân, quyền phát huy năng lực tập thể của cộng đồng, quyền sử dụng ruộng đất của mình và quyền kế thừa hoặc phát huy di sản văn hoá cá nhân.

3. Quyền của công dân: Bao gồm quyền được thừa nhận địa vị một cách bình đẳng và tôn nghiêm của mình, được nhận và bảo vệ không gian sinh tồn của mình.

4. Quyền của thành viên cộng đồng: Bao gồm quyền được xem xét về mặt liên quan đến chính sách phát triển dân số và gia đình hạnh phúc trong phát triển quốc gia.

Điều 7. Mỗi người là thành viên gia đình đều có quyền xây dựng gia đình hạnh phúc của mình bằng cách sinh đẻ số con lý tưởng, nuôi dạy con, giáo dục gia đình, con cái và các quyền khác để thực hiện gia đình hạnh phúc.

Điều 8.

1. Mọi công dân đều có nghĩa vụ theo đuổi và duy trì mối quan hệ hài hòa, đoàn kết nhất trí và cân đối giữa số lượng, chất lượng dân số và môi trường dưới tiền đề thừa nhận tình trạng kinh tế, gía trị văn hoá xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của mình.

2. Để đạt đựơc mối quan hệ hài hòa, đoàn kết nhất trí và cân đối nêu trong khoản 1, mọi công dân đều có nghĩa vụ nâng cao tố chất của bản thân mình thông qua việc cải thiện sức khoẻ, trình độ giáo dục và chất lượng môi trường.

3. Để giám sát sự phát triển của mối quan hệ nhịp nhàng, nhất trí và cân đối nêu trong khoản 1, mọi công dân đều có nghĩa vụ đăng ký sinh đẻ, tử vong và thay đổi chỗ ở theo luật pháp và quy tắc hiện hành.

Chương IV

NỖ LỰC CÓ LỢI VỀ MẶT PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH

Điều 9.

1. Để đạt được mục tiêu dân số đề cập trong khoản 1 Điều 3 và khoản 1 Điều 4 phải nỗ lực khống chế số lượng dân số, nâng cao chất lượng dân số và hướng dẫn dân số di cư.

2. Để đạt được mục tiêu phát triển gia đình hạnh phúc đề cập trong khoản 2 Điều 3 và khoản 2 Điều 4, phải nỗ lực phát triển và nâng cao chất lượng gia đình.

3. Việc thực thi những nỗ lực đề cập trong khoản 1 và khoản 2 do chính phủ và xã hội đưa ra nhữung biện pháp tổng hợp phối hợp với biện pháp khác để chấp hành, đồng thời phải xem xét đến lượng chịu đựng của tự nhiện, sức chịu đựng của môi trường nhân tạo và sức chịu đựng của môi trường xã hội.

Chương V

PHÁT TRIỂN DÂN SỐ

Điều 10.

1. Chính phủ chế định chính sách để khống chế số lượng dân số và được xác lập thông qua lập pháp.

2. Chế định chính sách nêu trong khoản 1 phải xây dựng trên cơ sở nguyên tắc sau đây: Nhịp nhàng, nhất trí và cân đối giữa số lượng dân số với lượng chịu đựng và sức chịu đựng của môi trường, và giữa số lượng dân số với tình trạng phát triển kinh tế xã hội và văn hoá xã hội.

3. Chính sách đề cập trong khoản 1 là chỉ thông qua mọi nỗ lực hạ thấp tỷ lệ tử vong, hạn chế sinh đẻ và hướng dẫn lưu động dân số làm cho nó nhất trí với lượng chịu đựng và sức chịu đựng của môi trường để điều tiết quy mô, kết cấu, cấu thành, tăng trưởng và phân bổ dân số.

4. Phải chế định chính sách nêu trong khoản 1 trên mức độ hai cấp nhà nước và khu vực, và căn cứ vào điều khoản nêu trên trong khoản 2 để chia thời gian thực hiện

Điều 11.

1. Chính phủ chế định chính sách để nâng cao chất lượng dân số.

2. Chế định chính sách đề cập trong khoản 1 là nhằm nâng cao chất lượng dân số làm cho nó trở thành nguồn tài nguyên nhân lực tiềm tàng, trở thành người sử dụng và bảo vệ môi trường, trở thành người khai thác mối quan hệ hài hoà với môi trường nhằm thực hiện sự phát triển liên tục.

3. Chính sách nêu trong khoản 1 được thực thi thông qua nâng cao tố chất thân thể hoặc phi thân thể của dân số.

Điều 12.

1. Nâng cao tố chất thân thể và phi thân thể của dân số, phát triển dân số và cung cấp dịch vụ cho dân số là dựa vào tiềm năng lớn nhất của mỗi người để nâng cao tố chất đó.

2. Nâng cao tố chất dân số nêu trong khoản 1 được thực thi thông qua việc cải thiện điều kiện các mặt của nó, bao gồm cung cấp hạ tầng cơ sở, thiết bị và có được cơ hội giáo dục, bồi thường và phục vụ tư vấn.

3. Thực thi cải thiện tình trạng dân số phải xem xét đến chuẩn mực tôn giáo, luân lý và văn hoá xã hội.

Điều 13.

1. Để nâng cao một cách bình đẳng tiềm năng lớn nhất của tất cả mọi người, chính phủ cung cấp phương tiện để nâng cao tố chất của cộng đồng dân số yếu kém.

2. Hình thức chủng loại và tính chất của các phương tiện nêu trong khoản 1 sẽ được xác lập thông qua chính phủ lập pháp.

Điều 14.

1. Chính phủ chế định chính sách để hướng dẫn lưu động dân số và phân tán dân số, từ đó thực hiện việc phân bố dân số tốt nhất được xây dựng trên cơ sở quan hệ cân đối giữa số lượng dân số, lượng chịu đựng và sức chịu đựng tự nhiên.

2. Chính sách nêu trong khoản 1 là cấp nhà nước và khu vực và chia thời gian chế định.

3. Chính sách nêu trong khoản 1 sẽ được xác lập thông qua chính phủ lập pháp.

Chương VI.

PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC

Điều 15.

1. Chính phủ chế định chính sách nhằm nâng cao chất lượng gia đình và được xác lập thông qua lập pháp.

2. Chế định chính sách nêu trong khoản 1 là nhằm đạt đến chất lượng gia đình có đặc trưng tự lực cánh sinh và khả năng thích ứng, từ đó làm cho gia đình trở thành nguồn tài nguyên nhân lực tiềm tàng, trở thành người sử dụng và người bảo vệ môi trường, trở thành người khai thác quan hệ hài hoà với môi trường, để thực hiện sự phát triển liên tục.

3. Chính sách nêu trong khoản 1 được thực thi thông qua tăng cường gia đình và phục vụ gia đình.

Điều 16.

1. Nhằm thực hiện việc phát triển gia đình hạnh phúc, chính phủ chế định chính sách để thực thi sinh đẻ có kế hoạch.

2. Chính sách nêu trong khoản 1 thực thi bằng cách thông qua mở rộng việc kết hợp và tham gia của xã hội, tăng cường gia đình và hạn chế sinh đẻ, đồng thời xem xét đến chuẩn mực tôn giáo, xem xét đến sự nhịp nhàng, nhất trí và cân đối giữa số lưọng dân số với môi trường và sức chịu đựng, xem xét đến các nhân tố tình trạng phát triển kinh tế xã hội, văn hoá xã hội và hệ thống giá trị xã hội.

3. Chính sách nêu lên trong khoản 1 liên quan với quyết định số con lý tưởng, khoảng cách giữa các lần sinh, tuổi kết hôn lý tưởng và tuổi sinh con lý tưởng.

4. Chính sách nêu trong khoản 3 chia thời kỳ chế định trên cơ sở của khoản 2 đề cập.

Điều 17.Hạn chế sinh đẻ đề cập trong khoản 2 Điều 16 được thực hành thông qua phương pháp có hiệu quả, nhất trí với sự lựa chọn của đôi bên vợ chồng và được vợ chồng chấp nhận.

Điều 18. Với lương tâm và tinh thần trách nhiệm đối với người đương thời và hậu thế, vợ chồng có thể quyết định kế hoạch và khống chế số con cái sinh đẻ và khoảng cách sinh đẻ.

Điều 19. Đôi bên vợ chồng được hưởng quyền lợi, nghĩa vụ như nhau và địa vị bình đẳng về việc quyết định phương pháp hạn chế sinh đẻ.

Điều 20.

1. Sử dụng thuốc, dụng cụ và phương pháp tránh thai có khả năng không có lợi cho sức khoẻ phải do nhân viên y tế có đủ tư cách tiến hành hoặc dưới sự hướng dẫn của họ.

2. Biện pháp nêu trong khoản 1 phải căn cứ vào tiêu chuẩn nghề nghiệp sức khoẻ quy định trong luật pháp, pháp quy hiện hành để thực hiện.

Điều 21. Trưng bày và biểu diễn thuốc dụng cụ, phương pháp tránh thai chỉ có thể do nhân viên làm công tác sinh đẻ có kế hoạch tiến hành ở nơi thích hợp với cách thức thích hợp.

Điều 22.

1. Thể theo nguyên tắc cung cầu cân đối và phục vụ phân phối bình đẳng, chính phủ quản lý việc cung cấp và phân phối thuốc, dụng cụ tránh thai.

2. Chính phủ và xã hội căn cứ theo luật pháp, pháp quy hiện hành để tiến hành nghiên cứu khoa học và khai thác thuốc, dụng cụ và phương pháp tránh thai.

Điều 23.

1. Để xúc tiến mô thức gia đình nhỏ hạnh phúc, thịnh vượng, Chính phủ ra sức cải thiện:

a. Mở rộng, viện trợ dịch vụ hạn chế sinh đẻ và dịch vụ tại chỗ hạn chế sinh đẻ.

b. Cung cấp bộ máy và hạ tầng cơ sở cần thiết cho việc phục vụ tránh thai.

c. Dịch vụ tư vấn liên quan đến tuổi tác kết hôn và tuổi tác sinh đẻ lý tưởng.

2. Điều khoản nêu trong khoản 1 sẽ được xác lập thông qua lập pháp.

Chương VII

THAM GIA CỘNG ĐỒNG

Điều 24.

1. Mọi công dân đều có quyền và cơ hội tham gia rộng rãi nỗ lực phát triển dân số và gia đình hạnh phúc.

2. Tham gia nêu trong khoản 1 sẽ được thực hiện thông qua các tổ chức tư lập và tổ chức đoàn thể xã hội, các ngành tư lập và cá nhân trên cơ sở tự nguyện, tự lập và tuỳ sức.

Chương VIII

QUẢN LÝ

Điều 25.

1. Chính phủ quản lý mọi hoạt động liên quan đến phát triển dân số và gia đình hạnh phúc.

2. Hoạt động do Chính phủ quản lý nêu trong khoản 1 có mấy mục tiêu dưới đây:

a) Giám sát công tác khống chế số lượng dân số, nâng cao chất lượng dân số, hướng dẫn lưu động dân số theo mục tiêu phát triển dân số và bảo đảm việc thực hiện thuận lợi.

b) Giám sát công tác khác về sinh đẻ có kế hoạch và thực hiện gia đình hạnh phúc và bảo đảm việc thực hiện thuận lợi.

3. Khi quản lý các hoạt động nêu trong khoản 1, Chính phủ có trách nhiệm:

a) Thu thập, chỉnh lý, phân tích thông tin để giám sát công tác về vấn đề phát triển dân số và gia đình hạnh phúc.

b) Định kỳ đánh giá và truyền đạt mục tiêu phát triển dân số và gia đình hạnh phúc.

c) Khống chế ảnh hưởng của môi trường đối với phát triển dân số và gia đình hạnh phúc và ảnh hưởng của phát triển dân số, gia đình hạnh phúc đối với môi trường.

d) Áp dụng hành động khắc phục những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển dân số và gia đình hạnh phúc.

4. Ngoài hoạt động nêu trong khoản 3, Chính phủ và đoàn thể xã hội có trách nhiệm:

a) Tuyên truyền, phổ biến thông tin và giáo dục công chúng về công tác dân số và phát triển gia đình hạnh phúc.

b) Tăng cường công tác dân số và phát triển gia đình hạnh phúc.

c) Triển khai việc nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực dân số và gia đình hạnh phúc.

d) Triển khai các hoạt động cần thiết khác.

5. Hoạt động nêu trong khoản 1, 2, 3, 4 sẽ được xác lập thông qua lập pháp.

Điều 26.

1. Chính phủ có những biện pháp và bước đi cụ thể để tăng cường nỗ lực cho công tác dân số và phát triển gia đình hạnh phúc, đẩy mạnh thi hành các điều khoản của luật này.

2. Biện pháp và bước đi nêu trong khoản 1 sẽ được xác lập thông qua lập pháp.

Điều 27. Bất kỳ ai vi phạm các điều khoản quy định của luật này sẽ bị xử phạt theo pháp luật và các quy định hiện hành.

Chương IX

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 28. Từ ngày luật này bắt đầu có hiệu lực, tất cả các luật, quy định liên quan đến phát triển dân số và gia đình hạnh phúc mà không trái với luật này vẫn tiếp tục có hiệu lực.

Điều 29. Luật này có hiệu lực kể từ ngày công bố.
 
(Lệnh Tổng thống công bố ngày 16/4/1992)
 
Võ Anh Dũng
Trung tâm Thông tin - Tư liệu - Tổng cục DS- KHHGĐ tổng hợp

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC