Ngày 28 Tháng 11, 2013 | 02:59 PM

Kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia Châu Á đạt mức sinh thấp dưới mức thay thế (2)

Kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia Châu Á đạt mức sinh thấp dưới mức thay thế (2)

GiadinhNet - Trong số các quốc gia Đông Nam Á, Thái Lan là quốc gia giảm sinh nhanh nhất, từ TFR= 6,5 trong những năm đầu thập niên 60 đã giảm mạnh xuống còn 5,4 sau khoảng 10 năm (1970-74), 3,9 vào đầu thập niên 90 và đạt dưới mức sinh thay thế 1,9 vào năm 19966.

Trong nửa cuối thập niên 90, các nhà hoạch định chính sách và các học giả Thái Lan đã đặt vấn đề liệu mức sinh của Thái Lan có tiếp tục giảm xuống nữa hay không. Những người theo trường phái khuyến sinh cho rằng mức sinh của Thái Lan sẽ tiếp tục giảm và Thái Lan sẽ phải đối mặt với những hậu quả do mức sinh thấp như các nước phát triển ở Châu Âu. Những người quá tả còn khẳng định mức sinh thấp sẽ làm dân tộc Thái suy vong. Song cũng có người cho rằng mức sinh của Thái dao động xung quanh mức sinh thay thế trên cơ sở phân tích số liệu của các cuộc điều tra về số con mong muốn. Knodel và đồng sự (1996) đã có phát hiện khá lý thú về xu thế giảm sinh trên cơ sở phân tích tổng hợp kết quả của một loạt điều tra khảo sát cấp quốc gia. Qua phân tích cho thấy tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi có chồng mong muốn có 2 con đã tăng không ngừng từ 19% trong những năm 1969-70 lên 64% năm 1993. Trong khi đó, tỷ lệ mong muốn có dưới 2 con hầu như không thay đổi qua các năm. Khác với những quốc gia có nền văn hoá Nho giáo, mô hình gia đình lý tưởng của người Thái là 2 con đủ cả nếp tẻ. Tại thời điểm năm 2000, (năm tiến hành Tổng điều tra dân số) Thái Lan cũng không dễ dàng gì trong dự báo xu thế mức sinh. Kết quả điều tra cho thấy, khủng hoảng kinh tế 1997 cũng là một trong những nguyên nhân tác động đến giảm mức sinh. Mặc dù lạm phát khiến cho chi phí dịch vụ KHHGĐ tăng lên, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng thuộc nhóm chịu ảnh hưởng nhiều của khủng hoảng kinh tế đã tăng lên nhằm hoãn sinh đứa con thứ hai. Kết quả điều tra mẫu nhỏ cho thấy, 10% phụ nữ thuộc nhóm chịu ảnh hưởng nhiều của khủng hoảng cho biết họ sẽ nạo phá thai nếu không may có thai trong thời gian khủng hoảng kinh tế này.

Đến năm 2003, thực tế mức sinh của Thái Lan đã giảm xuống còn 1,7. Với Thái Lan, tuổi kết hôn lần đầu của cả nam và nữ là yếu tố quyết định nhất đối với giảm mức sinh vì việc sinh con thường chỉ diễn ra trong hôn nhân. Tuổi kết hôn lần đầu của Thái Lan đã tăng từ 22 lên 24 với nữ và 24,4 lên 27,2 với nam. Tỷ lệ phụ nữ chưa từng kết hôn tiếp tục tăng rõ rệt ở tất cả các nhóm tuổi, nhóm 20-24 là 38%1970- 48%1990-56%2000; nhóm tuổi 40-44 là 3,9%1970-7,0%1990-9,3%2000. Khả năng sinh sản cũng giảm khi tuổi kết hôn lần đầu tăng lên. Quan trọng hơn cả là sau một thời gian dài trì hoãn việc kết hôn, người phụ nữ bị thu hút vào những vấn đề quan tâm khác vì thế mà suy giảm vai trò làm vợ và làm mẹ. Tỷ lệ phụ nữ 15-49 có chồng đang sử dụng biện pháp tránh thai cũng tăng nhanh từ 34%1975-72%1996-79,2%2000, chủ yếu là viên uống tránh thai (26,8% CPR), triệt sản nữ (22,6%), thuốc tiêm (22%). Vòng tránh thai chỉ chiếm 3,1% CPR. Nhu cầu chưa được đáp ứng khoảng 6% 9.

Theo Prachuabmoh và Mithranon, tiến trình toàn cầu hoá ở Thái Lan đã làm cho những mối quan hệ ràng buộc của gia đình ngày thêm lỏng lẻo và công chúng chấp nhận chủ nghĩa cá nhân dễ dàng hơn.
 
In-đô-nê-xi-a cũng đã nhanh chóng đạt được mục tiêu giảm mức sinh xuống còn một nửa trong 24 năm với nét đặc trưng là sự thay đổi đáng kể trong mức sinh của nhóm 20-24 và 25-29 chủ yếu do tuổi trung bình kết hôn lần đầu và tuổi trung bình sinh con lần đầu tăng lên. Nếu đầu thập niên 70, tỷ suất sinh đặc trưng của nhóm phụ nữ 20-24 là cao nhất thì đầu thập niên 80, mức sinh của nhóm phụ nữ 25-29 là cao nhất. Theo H. Hull, những chuyển biến lớn trong hành vi xã hội là nguyên nhân chủ yếu khiến cho mức chết và mức sinh giảm đáng kể. Ông cho rằng In-đô-nê-xia đã có những thay đổi lớn từ chỗ chú tâm cho gia đình chuyển sang quyền và lợi ích của cá nhân. Việc chuyển đổi hình thái hôn nhân thông qua mai mối, gả bán sang hôn nhân tự nguyện; nam nữ được tự do lựa chọn và quyết định cũng làm cho tuổi trung bình kết hôn lần đầu của thế hệ con cái (23-27) tăng lên hơn 10 tuổi so với thế hệ cha mẹ (13-15 tuổi). Vai trò và vị thế của phụ nữ thay đổi thể hiện rõ qua số năm đi học ngày một tăng và mức độ tham gia vào các hoạt động kinh tế. Trẻ em gái và phụ nữ được học hành nhiều hơn, tiếp nhận nhiều thông tin, kiến thức mới cũng như hưởng lợi trực tiếp từ những thành tựu y học nên các mức chết trẻ em đã giảm nhanh. Tình trạng hôn nhân và vai trò làm mẹ của phụ nữ trong một xã hội tạo nền tảng cho các “gia đình hạt nhân” cũng ảnh hưởng đến cuộc tranh đấu của phụ nữ vì sự bình đẳng trong việc làm và thu nhập. Trong xã hội cũng đã xuất hiện những thanh nữ không muốn lo toan thu xếp công việc trong gia đình. Chi phí cơ hội của việc làm, thu nhập và khả năng hội nhập trong xã hội hiện đại là động lực để giới trẻ phấn đấu và sẵn sàng thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Trong năm 1997, những người làm công tác KHHGĐ In-đô-nê-xia đã từng lo sợ khủng hoảng kinh tế sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến công tác dân số -KHHGĐ; việc Chính phủ cắt giảm ngân sách đầu tư cho chương trình, việc thiếu phương tiện tránh thai và người lao động thất nghiệp ngày một tăng có thể khiến “bùng nổ” dân số trở lại. Song kết quả thực hiện KHHGĐ của hai năm 1998-1999, đỉnh điểm của khủng hoảng, thì tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai lại tăng nhẹ, đặc biệt là hai biện pháp thuốc tiêm và thuốc uống tránh thai.

Quốc gia Nam Á thu hút sự chú ý của các chuyên gia nhân khẩu học là Sri Lanka. Quốc gia này đã đạt mức sinh thay thế 2,1 vào năm 2001 khi mà tỷ lệ dân số thành thị mới chỉ là 20% và tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ 15-49 tuổi có chồng là 44%. Các chỉ số khác tương đương với chỉ số của các nước nêu trên. Theo Bruce, sở dĩ Xơ-ri-lan-ka mất 10 năm để giảm mức sinh từ 2,2 xuống 2,1 (1991-2001) là do tỷ lệ sử dụng BPTT thấp.

Duy trì mức sinh thấp dưới mức thay thế trong nhiều năm sẽ làm thay đổi cơ cấu tuổi, và phân bố dân số của từng nhóm tuổi của dân số các quốc gia này. Hệ quả trực tiếp nhất là tỷ trọng dân số trẻ so với tổng dân số đang giảm rõ rệt. Đối với những quốc gia đã bước vào dân số già như Nhật Bản và Xinh-ga-po, xu thế giảm này ngày càng làm trầm trọng thêm tình trạng già hoá. Đối với những quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, khi tỷ trọng dân số phụ thuộc già còn ở dưới ngưỡng của dân số già đã phải đối mặt với 2 thách thức kép: Đó là dân số tiếp tục tăng trong bối cảnh già hoá với tốc độ nhanh nhất thế giới hiện nay và áp lực do vừa phải đảm bảo việc làm và thu nhập cho nhóm dân số lao động vừa phải chuẩn bị để sẵn sàng đón đầu dân số già. Cùng với mức sinh thấp, tuổi thọ không ngừng nâng lên đã đặt những quốc gia châu Á này vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.

Năm 1958, Coal và Hoover đã đề cập đến tác động tích cực của thay đổi cơ cấu tuổi do giảm mức sinh đối với phát triển kinh tế xã hội. Gần đây có nhiều tác giả (ví dụ như Mason 1988, Birdsall, Kelley và Sinding 2001) khẳng định cơ hội “ngàn năm có một” của những quốc gia bước vào nửa sau của thời kỳ quá độ nhân khẩu học. Đó chính là cơ hội dân số vàng; các quốc gia có thể dành đầu tư ở mức cao nhất cho phát triển nguồn nhân lực, sức khoẻ nhân dân và hạ tầng cơ sở. Về mặt lý thuyết, thời kỳ quá độ nhân khẩu học hay còn gọi là chuyển đổi nhân khẩu học sẽ chấm dứt khi đạt mức sinh thay thế; cơ cấu tuổi sẽ ổn định trong vòng 75-100 năm sau và; quy mô dân số sẽ ổn định khi tỷ lệ tăng trưởng hàng năm bằng 0. Song thực tế của tất cả các quốc gia châu Á đã đạt mức sinh thay thế là mức sinh tiếp tục giảm. Nếu loại trừ yếu tố nhập cư, với mức sinh rất thấp này tỷ lệ tăng trưởng dân số nhanh chóng tiếp cận hạn định zêrô và sau đó quy mô dân số sẽ giảm. Dân số giảm khởi đầu cho một quá trình chuyển đổi nhân khẩu khác. Theo Van de Kaa (1987) trong thời kỳ chuyển đổi nhân khẩu học lần thứ hai, các hành vi của cá nhân sẽ do các giá trị, các quyền và kết quả tự hoàn thiện của cá nhân quyết định thay vì các chuẩn mực xã hội và thiết chế. Hôn nhân sẽ lỏng lẻo hơn và vai trò can thiệp của nhà nước trong các vấn đề tái sinh sản sẽ không còn phù hợp. Liệu việc giảm mức sinh xuống dưới mức thay thế có ảnh hưởng gì đến hành vi sinh sản? Và nhìn rộng ra có ảnh hưởng gì đến các giá trị văn hoá truyền thống của châu Á? Liệu châu Á có gìn giữ được các giá trị liên quan đến hôn nhân và gia đình?

Dân số già hoá nhanh cũng sẽ gây những ảnh hưởng tương tự như tăng trưởng dân số nhanh, tạo áp lực cho hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có, chắc chắn sẽ làm cho những vấn đề kinh tế-xã hội, môi trường thêm trầm trọng và có nhiều biến động không thể lường trước; kết quả là lại làm nảy sinh những vấn đề dân số mới.

Dân số già hoá và viễn cảnh suy giảm quy mô dân số đang khiến cho nhiều vấn đề dân số phát sinh. Các quốc gia đã nhận thức được những gánh nặng ghê gớm của nền kinh tế và xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu hỗ trợ và chăm sóc sức khoẻ của dân số già, những thay đổi lớn và hết sức cần thiết trong công tác giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và bảo trợ xã hội. Ví dụ như người già có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhiều hơn. Chi phí chăm sóc sức khoẻ người già cao gấp 7-8 lần so với chăm sóc sức khoẻ trẻ em. Nhu cầu cán bộ điều dưỡng chăm sóc người già sẽ tăng đột biến trong bối cảnh lực lượng lao động giảm và phụ nữ ngày một tham gia tích cực hơn trong các hoạt động kinh tế xã hội. Đây sẽ không chỉ là khó khăn thách thức đối với gia đình mà cả với xã hội, nhà nước.

Đã có nhiều quốc gia có phản ứng tích cực nhằm làm đảo chiều mức sinh đang giảm xuống quá nhanh mà kết quả đạt được không đáng là bao. Có thể chia làm 3 nhóm: Nhóm 1-không can thiệp (Thái Lan), nhóm 2- chú trọng phúc lợi (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc) và nhóm 3-khuyến sinh (Xinh-ga-po). Thái Lan không có bất cứ biện pháp can thiệp nào nhằm làm tăng mức sinh. Nếu như trong Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội quốc gia lần thứ 7 (1992-1996) Thái Lan còn đặt chỉ tiêu kế hoạch giảm tỷ lệ tăng dân số từ 1,4% xuống còn 1,2% vào năm 1996. Trong Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội quốc gia lần thứ 8 (1997-2001) Thái Lan đã bỏ chỉ tiêu này. Cá nhân được tự do lựa chọn số con mong muốn. (Ruffolo và Chayovan 2000). Nhóm chính sách thứ hai chú trọng nâng cao chất lượng dân số và các dịch vụ phúc lợi, đặc biệt là các dịch vụ hỗ trợ gia đình và phụ nữ. Năm 1996, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện chính sách dân số mới nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và các dịch vụ phúc lợi đồng thời với việc duy trì TFR xấp xỉ 1,6. Trọng tâm của chính sách này là nâng cao năng lực cho phụ nữ thông qua việc cung cấp nhiều cơ hội việc làm hơn, can thiệp nhằm làm giảm chênh lệch tỷ lệ giới khi sinh bằng biện pháp giảm nạo phá thai lựa chọn giới tính thai nhi và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ gia đình bằng biện pháp mở rộng mạng lưới cơ sở chăm sóc trẻ em, thực hiện chế độ nghỉ đẻ và trợ cấp cho gia đình. (Cho và Lee 2000). Nhật Bản thực hiện các biện pháp nhằm cung cấp nhiều dịch vụ phúc lợi hơn và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc sinh và nuôi dạy con. Chính sách dân số của Trung Quốc lại tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đồng thời nâng cao vị thế của phụ nữ và tiếp tục tuyên truyền vận động thực hiện quy mô gia đình ít con. Ngoài ra Chính phủ Trung Quốc cũng thực hiện một số chính sách khuyến khích lợi ích kinh tế trực tiếp cho cá nhân và gia đình thực hiện kế hoạch hoá gia đình, có những biện pháp cải thiện hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là phúc lợi cho người già. Xinh-ga-po thực hiện chính sách khuyến sinh, khuyến khích những phụ nữ có trình độ học vấn và nghiệp vụ cao sinh nhiều con bằng những chế độ hỗ trợ tài chính trực tiếp và gián tiếp cho việc sinh và nuôi dạy con.

Uỷ Ban Dân số Liên Hợp Quốc cũng đã tiến hành nghiên cứu, tính toán số người nhập cư cần thiết để ngăn ngừa tình trạng suy thoái dân số của một số quốc gia, làm chậm tốc độ suy giảm của tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động so với dân số già (Huguet 2001). Theo Huguet, nếu Nhật Bản không chấp nhận phương án nhận người nhập cư thay thế thì dân số sẽ giảm sau năm 2010. Dân số Trung Quốc và Hàn Quốc sẽ giảm sau năm 2035. Sử dụng lao động nước ngoài đã trở thành thực tế của nhiều quốc gia như Nhật Bản, Xinh-ga-po, Hàn Quốc, Đài Loan, Ma-lay-xia, Thái Lan nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động, mặc dù chủ yếu là những hợp đồng lao động có thời hạn. Mặc dù vậy, các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường văn hoá có vai trò ảnh hưởng lớn hơn là yếu tố cơ cấu dân số. Lựa chọn phương án nhập cư thay thế sẽ đạt hiệu quả cao hơn song là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp và nhạy cảm. Vấn đề này đã từng gây tranh cãi nhiều năm ở Xinh-ga-po. Với những quốc gia có nền văn hoá nho giáo, do mất cân bằng giới tính khi sinh theo hướng trọng nam trong quá khứ mà vấn đề “cô dâu” nước ngoài đã trở thành vấn đề xã hội từ những năm 1990 đến nay. Đài Loan, Hàn Quốc đã có những điều chỉnh chính sách để thích ứng với xã hội đa sắc tộc, đa văn hoá và đa tôn giáo và xây dựng một xã hội hài hoà.
 
B.T

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC