Ngày 27 Tháng 11, 2013 | 04:56 PM

Kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia Châu Á đạt mức sinh thấp dưới mức thay thế (1)

Kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia Châu Á đạt mức sinh thấp dưới mức thay thế (1)

GiadinhNet - Trong suốt 50 năm cuối của thế kỷ 20, châu Á đã giảm đáng kể mức sinh và mức chết. Tổng tỷ suất sinh vào khoảng 6 con (1950-1955) đã giảm hơn một nửa, xuống còn 2,7 (1995-2000). Tại thời điểm năm 2001, đã có 14 quốc gia châu Á đạt mức sinh dưới mức thay thế trong giai đoạn 1995-2000.

Tại thời điểm năm 2001, đã có 14 quốc gia châu Á đạt mức sinh dưới mức thay thế trong giai đoạn 1995-2000. Trong số các quốc gia khu vực Đông Á và Đông Nam Á, Nhật Bản và Xinh-ga-po đạt mức sinh thay thế vào năm 1975. Cùng thời kỳ đó, tổng tỷ suất sinh của Hàn Quốc là 3,2, Trung Quốc 3,6 và Thái Lan 4,9. Sau 25 năm, tất cả 5 quốc gia này đều có mức sinh thấp dưới mức thay thế. Mức sinh thấp nhất thế giới đã trở thành hiện thực ở Hồng Kông, thành phố Thượng Hải và thành phố Tokyo và các mô hình sinh không khác gì mấy so với các mô hình sinh của các nước có mức sinh thấp nhất ở Châu Âu. Ngay cả ở những nước chưa đạt mức sinh thay thế thì cũng đã có những vùng, thành phố đạt mức sinh thấp như Bali (Indonesia), Kerala (Ấn Độ). Trong giới chuyên gia nhân khẩu học cũng đã có ý kiến tranh luận rằng một khi mức sinh đã giảm xuống quá thấp dưới mức thay thế thì gần như không có khả năng khôi phục mức sinh thay thế trong một thời gian ngắn.

Đã có người quan sát và rút ra nhận xét rằng ở những quốc gia châu Á đã đạt mức sinh thấp, những yếu tố sau tác động làm giảm mức sinh: Xu thế kết hôn, mô hình kết hôn, trình độ học vấn nhất là trình độ học vấn của phụ nữ, tỷ lệ chết trẻ em, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại. Ngoài ra còn có ảnh hưởng của những biến động kinh tế-xã hội, tỷ lệ đô thị hoá. Ở cả 05 quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Xinh-ga-po và Thái Lan, hơn ba phần tư số phụ nữ trên 15 tuổi biết chữ. Riêng Thái Lan, chỉ có hơn 1/3 nữ vị thành niên còn đang đi học và Trung Quốc là trường hợp ngoại lệ với các mức chết trẻ em xấp xỉ 20. Tỷ lệ kết hôn vị thành niên (dưới 18 tuổi) ở những nước này hầu như rất thấp và tuổi kết hôn lần đầu là khá cao.

Mức sinh của Nhật Bản bắt đầu giảm xuống dưới mức thay thế trong thập niên 70 do tác động của việc tăng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại, đặc biệt là biện pháp triệt sản, và nạo phá thai được coi là hợp pháp. Mức sinh thấp dao động ở mức 1,8 cho đến năm 1985, sau đó tiếp tục giảm (1,5 giai đoạn 1990-94, 1,34 năm 1999, 1,3 năm 2001). Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác như giảm tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi có chồng, giảm mức sinh của phụ nữ có chồng. (Atoh 2001). Sau năm 1985, ngoài những nguyên nhân này, mức sinh của Nhật Bản còn chịu ảnh hưởng của những biến động kinh tế xã hội ví dụ như thu nhập bình quân đầu người tăng vọt, tỷ lệ dân số thành thị tăng từ 37% lên 77% và tuổi thọ tăng từ 54 lên 82 tuổi với nữ và 50 lên 76 tuổi với nam. (Retherford, Ogawa và Sakamoto 1996). Theo Ogawa, sở dĩ Nhật Bản duy trì mức sinh quá thấp trong một thời gian dài vì có thay đổi cơ bản trong các giá trị về hôn nhân và gia đình. Khi mô hình hôn nhân thông qua mai mối suy giảm cũng là lúc chấm dứt khái niệm “mọi người đều lập gia đình” đồng thời xuất hiện khái niệm “độc thân mới”. Đó là những người con đã trưởng thành không chịu lập gia đình và vẫn sống cùng cha mẹ, không phải lo nghĩ gì nhiều về mọi chi tiêu hay việc nhà. Tình trạng này ngày càng trở nên phổ biến. Sinh hoạt tình dục trước hôn nhân, sống chung như vợ chồng gia tăng.

Chương trình KHHGĐ quốc gia của Xinh-ga-po được chính thức triển khai vào tháng 1 năm 1966, đánh dấu thời kỳ thực hiện chính sách giảm sinh. Để kiểm soát tăng trưởng dân số, Xinh-ga-po đã thực hiện nhiều biện pháp khá “cứng rắn”, thi hành các chính sách thưởng phạt gắn với lợi ích kinh tế, phúc lợi dành cho bà mẹ và trẻ em nhằm mục tiêu sớm đạt mức sinh thay thế và duy trì ổn định dân số với mức tăng trưởng dân số bằng không. Nhờ đó tỷ suất sinh thô đã giảm từ 32%o (1964) xuống còn 17,81%o và đạt mức sinh thay thế vào năm 1975, trước 5 năm so với kế hoạch. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1976-80) mục tiêu đặt ra là duy trì mức sinh thay thế để ổn định dân số vào năm 2030. Chính phủ bắt đầu có những điều chỉnh trong chính sách chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình: Giai đoạn 1970-75 Chính phủ khuyến khích triệt sản và nạo phá thai với những quy định khá “cởi mở”, Chính phủ trợ giá hoặc cung cấp dịch vụ KHHGĐ miễn phí tuỳ thuộc vào mức thu nhập của đối tượng. Sau 1975, những quy định này bị bãi bỏ. Năm 1980, tổng tỷ suất sinh đã giảm xuống còn 1,8 và Chính phủ bắt đầu nới lỏng các rào cản hạn chế sinh đồng thời triển khai một số biện pháp khuyến khích phụ nữ có trình độ học vấn cao sinh nhiều con. Chính sách khuyến sinh có chọn lọc của Xinh-ga-po chính thức bắt đầu vào tháng 3 năm 1987. Mặc dù Chính phủ đã tập trung nỗ lực trong thực hiện các chính sách khuyến sinh song tổng tỷ suất sinh vẫn tiếp tục suy giảm dưới mức thay thế. Với trường hợp Xinh-ga-po, tuổi trung bình kết hôn lần đầu và tuổi trung bình sinh con lần đầu, tỷ lệ phụ nữ chưa từng kết hôn ở mức cao; tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại và nạo phá thai không ngừng tăng là những yếu tố chính làm giảm nhanh mức sinh và tiếp tục làm giảm mức sinh dưới mức thay thế.

Năm 1962, trước sức ép của bùng nổ dân số do hiện tượng sinh bù sau Đại chiến tranh thế giới thứ 2, Hàn Quốc triển khai chính sách kiểm soát sinh thông qua chương trình KHHGĐ. Trong thực tế, chương trình chỉ thực sự bắt đầu trên phạm vi cả nước vào năm 1965. Khi đó tổng tỷ suất sinh là 6,0 con, tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm là 2,9%, một tỷ lệ cao nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Những năm 70 chứng kiến mức sinh giảm liên tục từ 4,5 con xuống còn 2,7 con vào năm 1982 và đạt mức sinh thay thế 2,1 con vào năm 1983. Kết quả đạt mức sinh thay thế trong vòng 25 năm là ngoài sự tiên liệu của nhiều nhà hoạch định chính sách và quản lý chương trình dân số-KHHGĐ.

Mặc dù kết quả của nhiều cuộc điều tra cho thấy kết hôn muộn, nạo phá thai và thực hiện KHHGĐ bằng các biện pháp tránh thai là 3 yếu tố chủ yếu quyết định giảm sinh nhanh trong những năm 70-80, song số sinh tăng trở lại vào những năm đầu thập niên 80 đã khiến cho các nhà lãnh đạo đất nước lo ngại việc “bùng nổ dân số” lần hai. Với quyết tâm nhanh chóng ổn định dân số, Chính phủ Hàn Quốc quyết định thực hiện chương trình kiểm soát gia tăng dân số toàn diện với những biện pháp mạnh hơn, coi đó là một phần của Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm lần thứ 5. Thay vì khuyến khích người dân thực hiện quy mô gia đình 3 con, 2 con như những năm 60-70, nhà nước đã có nhiều chính sách tập trung khuyến khích thực hiện quy mô gia đình 1 con, triển khai rộng rãi biện pháp triệt sản (Tỷ lệ triệt sản nam và nữ đã tăng từ 8,3% năm 1974 lên 48,2% năm 1988 và dao động lên xuống trong khoảng 40% những năm đầu 90). Tỷ lệ tham gia của nam giới trong kế hoạch hoá gia đình tăng vượt trội nhờ những biện pháp tuyên truyền vận động nhằm đả phá tư tưởng trọng nam còn khá nặng nề trong người dân. Ngân sách nhà nước đầu tư cho chương trình kế hoạch hoá gia đình năm 1980 tăng gấp 10 lần so với năm 1975; sau khi đạt được mức sinh thay thế ngân sách nhà nước năm 1985 tiếp tục tăng gấp 3 so với năm 1980, tương ứng với 0,25% tổng ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó phát triển kinh tế xã hội bao gồm cả những yếu tố như đô thị hoá nhanh, tốc độ nâng cao trình độ văn hoá cũng như tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế ở mức cao của phụ nữ Hàn Quốc đã góp phần quan trọng trong việc chấp nhận quy mô gia đình ít con và ổn định xu thế giảm sinh (Cho và Lee 1999).

Trên cơ sở kết quả giảm sinh của giai đoạn 1985-1995, mức sinh dao động lên xuống trong khoảng 1,7-1,6 con, năm 1996, Hàn Quốc chuyển từ chính sách kiểm soát dân số sang chính sách nâng cao chất lượng dân số và phúc lợi xã hội nhằm duy trì mức sinh 1,6 con. Tuy nhiên, kết quả điều chỉnh chính sách dân số không được như mong đợi. Mức sinh tiếp tục giảm nhanh từ 1,34 (năm 2000) xuống 1,17 (2004) và 1,08 (2005). Đây là mức sinh thấp nhất trong lịch sử thế giới.
 
Quá trình chuyển đổi mức sinh của Trung Quốc khác với các quốc gia nêu trên. Chính sách dân số của Chính phủ, thường được gọi là chính sách “một con”, đóng vai trò chính làm giảm mức sinh. Những năm cuối của thập niên 70 Chính phủ triển khai đồng bộ và toàn diện chương trình KHHGĐ, khuyến khích thực hiện đẻ muộn, đẻ thưa, đẻ ít trên phạm vi cả nước. Tổng tỷ suất sinh đã giảm từ 3,61975 xuống còn 2,31980. Do nới lỏng chính sách dân số bằng cách cho phép một số đối tượng được sinh trên 2 con, TFR của Trung Quốc dao động xung quanh mốc 2,2 cho đến năm 1990. Từ sau 1990, Trung Quốc lại xiết chặt chính sách 1 con và vì thế mức sinh đã giảm xuống dưới mức thay thế (Zeng 1996). Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi có chồng đang sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại đã tăng mạnh từ 71%1988 lên 85%1992.5 Năm 2003, tổng tỷ suất sinh của Trung Quốc đã giảm xuống mức 1,7. Thành công của chương trình KHHGĐ Trung Quốc đã giải phóng phụ nữ khỏi gánh nặng sinh và nuôi nhiều con, những gánh nặng và nỗi lo toan mưu sinh cho gia đình, giúp phụ nữ có nhiều cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. Mức chết trẻ em khá thấp, tuổi thọ không ngừng được nâng cao, đà tăng trưởng kinh tế- xã hội được duy trì ở mức cao trong nhiều năm đã tạo môi trường thuận lợi để duy trì mức sinh thấp này.
(Còn tiếp)
B.T tuyển chọn
Theo gopfp.gov.vn

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC