Năm 1993, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá VII, khẳng định:" Công tác Dân số-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế -xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội". Sau Nghị quyết này, Chính phủ đã xây dựng và triển khai mạnh mẽ "Chiến lược Dân số-KHHGĐ đến năm 2000" và cả hệ thống chính trị, xã hội đã vào cuộc.
Bộ máy làm công tác này đã được xây dựng từ Trung ương, tỉnh/thành phố tới các quận/huyện và xã/phường. Kinh phí dành cho công tác DS-KHHGĐ được huy động từ nhiều nguồn và tăng lên hàng chục lần so với những năm trước. Chương trình thông tin-giáo dục-truyền thông được đẩy mạnh, các dịch vụ, phương tiện KHHGĐ được đa dạng hoá và cung cấp theo nhiều kênh. Chỉ sau một thời gian ngắn, cả xã hội đã ý thức đầy đủ hơn về vấn đề dân số, mối quan hệ giữa dân số và phát triển. Mức sinh giảm đột biến, xu hướng bùng nổ dân số mạnh đã được “bẻ ghi ”, mức chết trẻ em giảm nhanh, “cơ cấu dân số vàng” đã xuất hiện, chất lượng dân số được nâng cao,....
Có thể nói, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá VII đã sớm đi vào cuộc sống, được nhân dân hưởng ứng và đã có những thành công, được thế giới ghi nhận. Năm 1999, Liên hợp quốc đã tặng Giải thưởng Dân số cho Việt Nam. Nhưng thành công lớn cũng sinh ra những thách thức mới, như: Quá trình già hoá dân số nhanh hơn, dấu hiệu mất cân bằng giới tính của trẻ sơ sinh ngày càng rõ; mức sinh, mức chết còn khác nhau lớn giữa các vùng, di dân ngày càng sôi động...Có thể nói, cả vận hội và thách thức cùng xuất hiện, đan xen trong xu hướng biến đổi dân số của nước ta.
Để có chính sách thích hợp, hiệu quả, dưới đây, xin trình bày một sốvận hội và thách thức này đồng thời đề xuất những khuyến nghị góp phần phần xây dựng và thực hiện chính sách dân số Việt Nam, giai đoạn từ 2007 đến 2025.
Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh
Sản xuất vật chất là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Hoạt động này thật đa dạng, muôn hình, muôn vẻ nhưng suy cho cùng cũng chỉ xoay quay hai trục hay hai dòng: Sản xuất ra đồ vật (bao gồm tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng) và sản xuất ra chính bản thân con người (con người, trước hết, ở khía cạnh tự nhiên, cũng là một dạng vật chất). Hai dòng sản xuất vật chất này khác hẳn nhau về nhiều mặt nhưng lại có mối liên hệ, phụ thuộc chặt chẽ vào nhau, đến mức nếu không có dòng sản xuất này thì cũng không có dòng sản xuất kia. Do vậy, để phát triển bền vững thì không thể chỉ kế hoạch hoá, quản lý dòng sản xuất đồ vật mà buông lỏng quản lý dòng sản xuất ra con người hay ngược lại.
Năm 2005, Việt Nam tự hào là dòng sản xuất “đồ vật” đã đạt được gần 40 triệu tấn lương thực, 19 triệu tấn dầu thô, 33 triệu tấn than sạch,....
Còn kết quả dòng sản xuất thứ hai, cho đến nay, thì sao? Theo Tổng cục Thống kê, năm 2005, Việt Namcó khoảng 83,12 triệu người, là nước đông dân thứ 13 trên thế giới.
Nhưng nếu chỉ nói đến số dân hay quy mô dân số không thôi thì chưa thể hiểu hết tình hình. Cần phải xem xét mối tương quan giữa số dân và tài nguyên, nhờ nó mà nhân loại tồn tại và phát triển . Trước hết là đất đai - thứ tài nguyên mà nếu thiếu chúng ta cũng không nhập khẩu được. Một cách đơn giản nhất, chung nhất, người ta dùng chỉ tiêu mật độ dân số để nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và đất đai. Mật độ dân số nước ta lên tới 252 người trên 1km2. Trên thế giới, năm 2005 chỉ có 4 nước ( Ấn Độ, Nhật Bản, Băng -la -đet, Phi-lip-pin) có dân số nhiều hơn và mật độ dân số cao hơn nước ta.
Bảng 1a: Những nước có Dân số và mật độ dân số lớn hơn Việt Nam, năm 2005
|
Nước
|
Số dân
(triệu người)
|
Mật độ
(người/km)
|
GDP bình quân
|
|
Băngladet
Nhật Bản
Ấn độ
Philipin
Việt Nam
|
114
127,7
1.103,6
84,8
83,12
|
1001
338
336
283
252
|
404,6
36.186,9
640,8
1.041,5
553,0
|
Nguồn: Niên giám Thống kê. NXB Thống kê,. Hà Nội, 2005
Vùng ĐBSH khoảng trên 1200 người/km2, nhiều tỉnh “thuần nông”, như: Thái Bình, Nam Định, Hư ng Yên, Bắc Ninh mật độ dân số cũng lên tới trên 1.100 người/km2 ! Các nhà khoa học của Liên hợp quốc đã tính toán rằng, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1km2, chỉ nên có từ 35 đến 40 người. Như vậy, ở Việt Nam, mật độ dân số đã gấp khoảng 6 - 7 lần “mật độ chuẩn” . So với mật độ dân số Trung Quốc (136 người/km2, năm 2005) cũng gần gấp đôi còn so với các nước đã phát triển thì gấp trên 10 lần! Căn cứ vào chỉ báo này, có thể khẳng định rằng: Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số rất lớn. Mặc dù vậy, dân số nước ta vẫn tăng mạnh. Tăng trưởng dân số Việt Nam (1921-2005)
|
Năm
|
Số dân
(triệu người)
|
Số dân tăng thêm sau 10 năm (triệu người)
|
Tỷ lệ tăng dân số trung bình hằng năm trong kỳ (%)
|
|
1921
1931
1941
1951
1955
1965
1975
1985
1995
2005
2024
|
15,5
17,7
20,9
23,1
25,1
35,0
47,6
59,9
72,0
83,1
100,5
|
-
2,2
3,2
2,2
9,9
12,6
12,3
12,1
11,1
(Dự báo )
|
-
1,33
1,66
1,00
3,32
3,07
2,29
1,96
1,37
|
- Sau 85 năm, dân số nước ta tăng lên 5,36 lần. (Trong khi đó, cũng trong thời gian này, dân số thế giới chỉ tăng khoảng 3,6 lần)
- Quá trình tăng trưởng dân số nước ta có thể chia thành 3 giai đoạn: 35 năm đầu tiên (1921-1955) dân số tăng chậm, chỉ thêm được 9,6 triệu người; 40 năm tiếp theo (1955-1995) là giai đoạn bùng nổ mạnh, số dân tăng thêm tới 47,8 triệu; từ năm 1995, tăng trưởng dân số nước ta đã chậm lại.
- Ở giai đoạn đầu, cứ sau 10 năm, dân số tăng thêm khoảng 2-3 triệu người; giai đoạn thứ hai, mặc dù công tác KHHGĐ đã mạnh hơn, song dân số vẫn tăng từ 10 đến gần 13 triệu! 10 năm gần đây, nhịp độ này đã giảm xuống, nhưng vẫn ở mức hơn 11 triệu người.
- Từ số liệu Bảng 1a, có thể tính toán và thấy số dân tăng thêm hàng năm tăng mạnh: Từ 0,4 0 triệu mỗi năm giai đoạn 1945-1955 đến 1,26 triệu giai đoạn 1965- 1975 và giảm dần xuống 1,11 triệu giai đoạn 1995- 2005 (Xem Bảng 1c)
Bảng 1 c: Số dân tăng thêm trung bình hàng năm trong từng giai đoạn
(Triệu người)
|
Thời kỳ
|
1945
1955
|
1955
1965
|
1965
1975
|
1975
1985
|
1985
1995
|
1995
2005
|
|
Số dân tăng thêm
|
0,40
|
0,99
|
1,26
|
1,23
|
1,21
|
1,11
|
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ các số liệu thống kê dân số
Chi tiết hơn, trong 3 năm gần đây: Năm 2003 dân số nước ta tăng thêm: 1.189. 265 người, năm 2004 tăng thêm: 1.148.452 người, năm 2005 tăng thêm 1.087.700 người,nghĩa là bằng dân số một tỉnh loại trung bình (nước ta có 39 tỉnh có dân số từ 1,1 triệu trở xuống).
Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, năm 2024 nước ta sẽ vượt 100 triệu dân, đạt 100. 491, 4 ngàn người! Mật độ dân số lên tới 335 người/km2! Tuy nhiên, cần chú ý rằng dân số tăng lên hiện nay là do đà tăng dân số chứ không phải do mức sinh cao (hiện Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế).
Quy mô dân số rất lớn, mật độ dân số rất cao và vẫn đang tăng mạnh như trình bày ở trên, bên cạnh việc tạo ra thị trường lớn, nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, có sức hấp dẫn đầu tư, cũng góp phần không nhỏ làm trầm trọng thêm những khó khăn trong giải quyết việc làm, nâng cao thu thu nhập, cải thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, xoá bỏ tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông. Về tác động này cần có chuyên đề riêng về tác động của dân số đến sự phát triển bền vững ở nước ta.
Dân số phân bố không đều. Di dân ngày càng sôi động.
Để sản xuất, kinh doanh phát triển nhanh và hiệu quả cần có sự kết hợp tối ưu giữa lao động, kỹ thuật, vốn và tài nguyên (một nước nông nghiệp như Việt nam thì trước hết là tài nguyên đất và nước). Mặt khác, ở vùng biên của nước ta, dân cư còn thưa thớt. Quá trình cư trú "đan xen" giữa 54 dân tộc anh em đang được tăng cường. Vì vậy, sự phân bố dân cư trên các vùng lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng trên các mặt kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Trong 8 vùng kinh tế - sinh thái, 42,8% dân số tập trung ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi đó, diện tích đất đai của hai vùng này chỉ chiếm 16,6 % ! Mật độ ở các tỉnh rất khác nhau. Năm 1999, trung bình trên mỗi km2 đất ở Thái Bình có 1194 người, trong khi đó ở Kontum chỉ có 32 người/km2, tức là hơn kém nhau đến gần 40 lần! Mặt khác, vốn đầu tư nước ngoài, giai đoạn 1988-1998 vào Đồng bằng Sông Hồng gấp 176 lần Tây Nguyên, còn Đông Nam Bộ thì gấp 307 lần! Thực trạng này chứa đựng tiềm năng di cư lớn. Những đặc trưng của di dân hiện nay, đã khác so với trước đây:
Về động lực: việc làm, thu nhập (không nhất thiết là đất canh tác), hôn nhân và đoàn tụ gia đình; Hướng: Nông thôn - đô thị, Bắc - Nam; Hình thức đa dạng:Di dân kinh tế mới, di dân định canh, định cư, di dân ổn định biên giới và di dântự phát; Quy mô di chuyển ngày càng lớn: Riêng giai đoạn 1961-1997, đã có 5,9 triệu dân di chuyển tới các vùng theo dự án. Ở thành phố Hồ Chí Minh, luồng di dân tự do đến không ngừng tăng lên. Thí dụ, giai đoạn 1981-1985, bình quân mỗi năm thành phố tăng thêm 130.000 người; giai đoạn 1986-1990: 185.000 giai đoạn 1991-1996: 213.000 người...Sau 26 năm từ 1999 đến 2005, dân số Tây Ngyên đã tăng gấp hơn 3 lần, chủ yếu do dân nhập cư. Tây Nguyên trở thành nơi hội tụ dân cư từ nhiều tỉnh thành, nhiêu dân tộc và nhiều tôn giáo.
Hướng di dân cũng đã thay đổi đáng kể, từ nông thôn- nông thôn phía Bắc trước năm 1975 đến di dân Bắc-Nam rồi chuyển sang hướng di dân nông thôn-đô thị và trong nước ra nước ngoài những năm gần đây. Khoảng 10 năm trở lại đây, số phụ nữ lấy chồng nước ngoài khá lớn và có xu hướng tăng lên, đặc biệt là các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Chỉ tính đến đầu năm 2004, riêng số phụ nữ lấy chồng Đài Loan đã lên đến gần 80.000 người. Kết hôn với người nước ngoài là một nguyên nhân mới, đáng kể của di dân và đang gây ra những hậu quả phức tạp về các mặt dân số, pháp lý, tâm lý xã hội.
Mức sinh đã giảm mạnh nhưng chưa ổn định và còn khác nhau giữa các vùng.
Để đo lường mức sinh, người ta dùng nhiều chỉ tiêu. Thông thường nhất là "Tỷ suất sinh thô". Tỷ suất này viết tắt là CBR (Crude Birth Rate), có đơn vị đo là phần nghìn và biểu thị số trẻ được sinh ra trong 1 năm, tính trung bình trên 1000 dân.
Tỷ suất sinh thô của Việt Nam có xu hướng giảm, đặc biệt giảm nhanh từ năm 1993 trở lại đây
Tỷ suất sinh thô ở Việt Nam
Đơn vị : Phần nghìn
|
Năm
|
CBR
|
Năm
|
CBR
|
Năm
|
CBR
|
Năm
|
CBR
|
|
1957
|
44,0
|
1992
|
30,04
|
1997
|
22,8
|
2002
|
18,2
|
|
1969
|
36,3
|
1993
|
25,8
|
1998
|
21,5
|
2003
|
17,5
|
|
1974
|
34,5
|
1994
|
25,2
|
1999
|
19,9
|
2004
|
18,7
|
|
1979
|
32,5
|
1995
|
23,9
|
2000
|
19,2
|
2005
|
18,6
|
|
1989
|
30,1
|
1996
|
22,8
|
2001
|
18,6
|
2006
|
17,4
|
Nguồn: Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội: Vấn đề dân số hôm nay, 1998
TCTK: Kết quả điều tra DS-KHHGĐ 1-4 hoặc 1-10 hàng năm
Tuy tỷ suất sinh giảm và đạt mức thấp nhưng do quy mô dân số lớn nên hàng năm, số trẻ sinh ra ở nước ta vẫn rất lớn , như năm 2005 ta có thể tính số trẻ sinh ra như sau:
83.100.000 x 0,0186 = 1.545.660, tức là năm 2005 cả nước sinh ra trên 1,5 triệu trẻ em.
Chỉ tiêu thứ hai cũng thường được sử dụng là Tổng tỷ suát sinh, ký hiệu TFR ( Total fertility Rate) hay Số con trung bình của một phụ nữ tính đến hết tuổi sinh đẻ.
Tương tự như Tỷ suất sinh thô, số con trung bình của mỗi phụ nữ Việt Nam cũng không ngừng giảm xuống ( Bảng 5b)
Bảng 5 b: Số con trung bình của một phụ nữ ( TFR) thời kỳ 1969 - 2005
|
Giai đoạn
|
TFR
|
Giai đoạn
|
TFR
|
Năm
|
TFR
|
|
1969-1974
|
6,1
|
1991-1992
|
3,9
|
2002
|
1.90
|
|
1974-1979
|
4,8
|
1992-1993
|
3,5
|
2003
|
2,12
|
|
1986-1987
|
4,2
|
1993-1994
|
3,1
|
2004
|
2,23
|
|
1987-1988
|
4,0
|
1992-1996
|
2,7
|
2005
|
2,21
|
|
1988-1989
|
3,8
|
1999
|
2,3
|
2006
|
2,09
|
Nguồn: - Nguyễn Thiện Trưởng (Chủ biên) Dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội,-2004
- TCTK: Kết quả điều tra DS-KHHGĐ 1-4 hoặc 1-10 hàng năm
Việc mỗi phụ nữ , từ chỗ sinh đẻ 6-7 con đến chỉ đẻ 2 con, chắc chắn có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến sức khoẻ, học vấn, việc làm, thu nhập địa vị xã hội của họ mà còn ảnh hưởng theo hướng tích cực tới việc nuôi, dạy con cái, hạnh phúc gia đình , sự phát triển của cộng đồng và xã hội.
Năm 2004, có khoảng 75,7% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đang sử dụng biện pháp tránh thai. Ở mức này, nói chung đã có thể đạt được mức sinh “thay thế”, nghĩa là trung bình mỗi người phụ nữ khi hết tuổi sinh đẻ có 2 con.Nhu cầu phương tiện, dịch vụ tránh thai sẽ ngày càng lớn.
Số liệu Bảng 5a và Bảng 5b cũng cho thấy xu hướng giảm sinh không ổn định. Từ năm 2003 đến nay, mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 "nhích lên" đôi chút. Đã có nhiều lý giải nguyên nhân của hiện tượng "gia tăng dân số trở lại", trong đó có tác động của Điều 10 Pháp lệnh Dân số. Tuy nhiên, thời gian còn ngắn để đánh giá tác động này (quy mô, đối tượng, nhất thời hay lâu dài….), vả lại tỷ lệ tăng dân số vẫn tiếp tục giảm: Năm 2003: 1,47%, năm 2004: 1,44%, năm 2005 : 1,33%.
Mặt khác, mức sinh có sự khác biệt lớn giữa nông thôn, thành thị, giữa các vùng địa lý kinh tế, các tỉnh và giữa các nhóm xã hội
Bảng 6: Khác biệt về mức sinh theo khu vực/vùng.
|
Khu vực/Vùng
|
Tổng tỷ suất sinh
|
|
1999
|
2005
|
|
Cả nước
|
2,33
|
2,11
|
|
Thành thị
|
1,59
|
1,73
|
|
Nông thôn
|
2,54
|
2,28
|
|
Tây Nguyên
|
3,90
|
3,07
|
|
Tây Bắc
|
3,60
|
2,49
|
|
Bắc Trung bộ
|
2,80
|
2,45
|
|
Đông Bắc
|
2,30
|
2,28
|
|
Duyên hải miền Trung
|
2,50
|
2,21
|
|
Đồng bằng sông Hồng
|
2,00
|
2,06
|
|
Đồng bằng sông Cửu Long
|
2,10
|
2,00
|
|
Đông Nam bộ
|
1,90
|
1,85
|
Nguồn: - Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và nhà ở Trung ương:
Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam 1999
- TCTK: Kết quả điều tra DS-KHHGĐ 1-4 -2005
Chất lượng dân số có cải thiện nhưng vẫn chưa cao.
Chỉ số phát triển con người (The Human Development Index - HDI) được tổng hợp từ các chỉ số về kinh tế, giáo dục và sức khoẻ, có thể coi là một chỉ báo về chất lượng dân số. Chỉ số này cao nhất là 1, thấp nhất là 0
Chỉ sô phát triển con người (HDI) của nước ta hàng năm, như sau:
|
Năm
|
Giá trị HDI
|
Thứ hạng
|
|
1992 (Báo cáo năm 1995)
|
0,539
|
120/174
|
|
1993 (Báo cáo năm 1996)
|
0,540
|
121/174
|
|
1994 (Báo cáo năm 1997)
|
0,557
|
121/174
|
|
1995 (Báo cáo năm 1998)
|
0,560
|
121/174
|
|
1996 (Báo cáo năm 1999)
|
0,664
|
110/174
|
|
1998 (Báo cáo năm 2000)
|
0,671
|
108/174
|
|
1999 (Báo cáo năm 2001)
|
0,682
|
101/162
|
|
2000 (Báo cáo năm 2002)
|
0,688
|
109/173
|
|
2001 (Báo cáo năm 2003)
|
0,688
|
109/175
|
|
2003 (Báo cáo năm 2005)
|
0,704
|
108/177
|
|
2004 (Báo cáo năm 2006)
|
0,709
|
109/177
|
UNDP, Báo cáo phát triển con người, hàng năm
Như vậy, HDI của nước ta không ngừng tăng lên, tuy nhiên so với thế giới, thứ hạng vẫn còn rất thấp.
Chất lượng dân số cũng còn biểu hiện qua thể lực, trí lực và tâm lực của con người.
Về thể lực: Trên phạm vi toàn quốc, theo Điều tra y tế quốc gia 2002: Tỷ lệ trẻ so sinh nặng dưới 2500 gram là 5,6% . Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thuộc diện thấp còi (thấp hơn so với lứa tuổi): 33%; Trẻ em có cân nặng theo tuổi thấp 25,7%, béo phì: 1,3%. Năm 2004, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao, ở mức 26,6%, đặc biệt là ở khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc. Ngược lại, ở khu vực thành thị lại có tỷ lệ trẻ em béo phì. Theo kết quả điều tra của Viện dinh dưỡng, có 4,9% số trẻ từ 4 - 6 tuổi tại Hà Nội và 6% trẻ dưới 5 tuổi, 22,7% trẻ đang học cấp I ở thành phố Hồ Chí Minh bị thừa cân, béo phì.
So sánh chiều cao, cân nặng nam15 tuổi của Việt Nam và Nhật bản
|
Tên nước
|
Cân nặng (kg)
|
Chiều cao (cm)
|
|
Việt Nam (2002)
|
43,3
|
156,7
|
|
Nhật bản (1989)
|
53,0
|
164,0
|
Ngoài ra, năm 2005, cả nước còn 5,3 triệu người tàn tật, bị mắc bệnh bẩm sinh, bị ảnh hưởng chất độc màu da cam, chiếm 6,34 % dân số, ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi.
Về trí lực: 1,5% dân số thiểu năng về thể lực và trí lực. Năm 2003, lao động của Việt Nam có: 4,5% mù chữ, 47% mới chỉ có trình độ Tiểu học, 30 % tốt nghiệp THCS và 18,5% tốt nghiệp THPT. 79% lao động từ 15trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Khu vực nông thôn, tỷ lệ này lên tới 87%, trong khi đó những lao động có trình độ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 1,58%!
Về tâm lực: Tội phạm, tiêu cực xã hội có xu hướng gia tăng. Trong đó, trẻ em làm trái pháp luật tăng lên - Nỗi nhức nhối của gia đình và xã hội.Theo thống kê, trên cả nước, số trẻ em vào trường giáo dưỡng và số bị khởi tố hình sự có xu hướng không ngừng tăng lên. Cụ thể là:
Năm 1994 1996 1998 2000
Số trẻ em vào trường giáo dưỡng 120 533 1360 1467
Số bị khởi tố hình sự , giai đoạn 1990-1994, trung bình mỗi năm có 2.500 người chưa thành niên bị khởi tố chiếm 3, 4 % trong tổng số tội phạm bị khởi tố, thì giai đoạn 1995-1998, những con số tương ứng là 4.600 và 11,3% ! Đó là chưa kể số trẻ em hư và hàng vạn trẻ em lang thang, nghiện hút, mại dâm…
Khi trong gia đình có trẻ em hư, trẻ em vào trường giáo dưỡng, bị khởi tố hình sự thì gia đình đâu còn hạnh phúc và đâu còn sự phát triển bền vững? Rõ ràng, KHHGĐ và kinh tế phát triển thì số con ít đi, mức sống tăng lên, nhiệm vụ trọng tâm và khó khăn nhất của các gia đình đã chuyển từ nuôi con sang dạy con, từ chăm sóc thể chất chuyển sang chăm sóc về trí tuệ, tinh thần.
Như vậy, sau nhiều năm thực hiện Chương trình Dân số -KHHGĐ, tình hình dân số nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực: Mức sinh giảm mạnh, hiện đã gần đạt mục tiêu "mỗi cặp vợ chồng 2 con " tạo cơ hội ổn định dân số . Quy mô gia đình nhỏ góp phần phát triển kinh tế, cải thiện địa vị phụ nữ; "Cơ cấu dân số vàng" đã xuất hiện, chất lượng dân số nâng cao liên tục, mức chết giảm thấp, mức chết trẻ em giảm nhanh....Tuy nhiên, dân số lại nảy sinh những vấn đề tiêu cực mới: Sự mất cân đối giới tính của trẻ em; ly hôn, nạo phá thai, HIV/AIDS tăng lên, chất lượng dân số chưa cao....Phát hiện đầy đủ những đặc điểm, những xu hướng biến đổi dân số ở nước ta là cơ sở để hoạch định chính sách dân số hữu hiệu trong thời gian tới góp phần phát triển bền vững đất nước.
Theo Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam