Ngày 27 Tháng 12, 2012 | 08:56 AM

Chương trình KHHGĐ quốc gia và chuyển đổi mức sinh ở Hàn Quốc (1)

Chương trình KHHGĐ quốc gia và chuyển đổi mức sinh ở Hàn Quốc (1)
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Xã hội Hàn Quốc đã chuyển đổi kinh tế và quá độ dân số từ đầu thập niên 60, khi nền kinh tế do chiến tranh tàn phá vẫn chưa hồi phục; người dân vẫn còn đang phải chịu cảnh đói nghèo và hệ thống chính trị phải đối mặt với tương lai bất ổn.

Thu nhập bình quân đầu người một năm khi đó vào khoảng 80 USD. Khoảng 72% dân số Hàn Quốc sống ở các khu vực nông thôn và kiếm sống bằng nghề trồng lúa. Tỷ lệ thất nghiệp tại các thành phố vào khoảng 30%. Đa phần Seoul, thành phố thủ đô, là các khu nhà ổ chuột.
 
Bất chấp đói nghèo, mức chết đã tương đối thấp và vẫn tiếp tục giảm. Tỷ suất chết giảm mạnh từ những năm đầu của thế kỷ 20 là kết quả của những cải thiện về chăm sóc sức khoẻ và y tế. Việc giới thiệu các loại thuốc kháng sinh của Liên Hiệp Quốc trong cuộc chiến tranh Liên Triều đã giảm đáng kể mức chết ở trẻ sơ sinh và trẻ em, tăng tỷ lệ sống sót. Mức chết giảm cộng với mức sinh vốn dĩ đã cao khiến cho dân số gia tăng rất nhanh.
 
Trong suốt những năm 1955 - 1960, tỷ lệ tăng dân số hàng năm là 2,9%, tỷ lệ cao nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Dân số tăng nhanh càng tạo thêm gánh nặng cho nền kinh tế. Rồi bất ngờ có những chuyển biến trong nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau ở Hàn Quốc. Mức sinh giảm mạnh. 

Nền kinh tế bắt đầu cất cánh, khởi đầu bằng công cuộc công nghiệp hoá. Một lượng lớn cư dân nông thôn bắt đầu di chuyển đến các khu vực thành thị. Ổn định chính trị được đảm bảo bằng việc thành lập Chính phủ dân sự thông qua bầu cử. Những thay đổi này đã tác động đến mô hình sống và chất lượng cuộc sống của người dân Hàn Quốc. Tiến trình này diễn ra liên tục trong vòng gần bốn thập niên.
 
Hiện tại, tỷ lệ phát triển dân số hạ xuống dưới 1% và tổng tỷ suất sinh dưới mức thay thế. Thu nhập bình quân đầu người hàng năm đạt 10.000 đôla Mỹ và tỷ lệ dân số thành thị chiếm 80%. Tỷ lệ học sinh tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông tăng từ 26% năm 1955 lên 98% vào năm 1990.
 
Quá trình chuyển đổi này có rất nhiều nét đặc trưng: Bất ngờ khởi phát, tác động đến tất cả các lĩnh vực của xã hội, được thực hiện với tốc độ chưa từng thấy và được Chính phủ tạo điều kiện bằng những hoạt động can thiệp. Những nét đặc trưng này thường được nhắc tới như sự thay đổi “toàn diện, có trọng tâm và có kế hoạch”. Trong tình hình đó, rất khó giải thích rõ ràng, tuần tự từng bước của toàn bộ quá trình cải biến xã hội mặc dù phát triển kinh tế được cho là nguyên nhân chính.
 
Những lý giải về mặt văn hóa xã hội của phát triển kinh tế và chuyển đổi mức sinh của Hàn Quốc cũng rất tiến bộ. Đặc biệt là Chính phủ đã đầu tư vốn để phát triển kinh tế, công nghiệp hoá và chuyển đổi nhanh mức sinh; Chính phủ đã đưa những mục tiêu này vào trong một loạt kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế, kể từ năm 1962.
 
Tuy nhiên, can thiệp của nhà nước và các chính sách của Chính phủ không thành công bằng các khu vực khác. Ví dụ như mặc dù chính sách dân số của Chính phủ hướng vào mức sinh đã phát huy tác dụng nhưng nếu xét về mặt di cư và phân bố lại dân cư thì hoàn toàn thất bại. Bởi vậy, rất khó thiết lập những mối quan hệ nhân quả đơn thuần trong hầu hết các lực lượng xã hội bởi các mối quan hệ đó tác động đan xen một cách chặt chẽ trong hệ thống.
 
Để thay đổi xã hội, phát triển kinh tế hay quá độ dân số, không thể chỉ có một con đường duy nhất. Tư tưởng này đã được thừa nhận rộng rãi. Vì thế, với mỗi trường hợp, điều quan trọng nhất là giám sát từng chi tiết của quá trình biến động, cơ chế thực hiện cụ thể, cũng như các yếu tố môi trường để có thể hiểu biết đầy đủ sự chuyển biến đầy ý nghĩa về mặt xã hội đó. 

Tác giả đã sử dụng cách tiếp cận này để nghiên cứu hầu hết những đặc điểm của chính sách kiểm soát sinh của Chính phủ, các xu thế và hình thái chuyển đổi mức sinh cũng như những tác động, ảnh hưởng của chính sách đối với chuyển đổi mức sinh ở Hàn Quốc.
 
Còn tiếp
Giáo sư xã hội học Tai-Hwan Kwon
Khoa xã hội học, Đại học Quốc gia Seoul
Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC