Ngày 27 Tháng 12, 2012 | 03:17 PM

Chính sách Dân số Hàn Quốc (4): Phổ biến các biện pháp KHHGĐ

Chính sách Dân số Hàn Quốc (4): Phổ biến các biện pháp KHHGĐ
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Trước khi thành lập chương trình quốc gia vào năm 1962, ý tưởng tránh thai còn xa lạ và kiến thức về các biện pháp tránh thai còn rất hạn chế.

Mặc dù rất nhiều đàn ông Hàn Quốc biết về bao cao su, nhưng họ dùng chủ yếu để tránh các bệnh lây qua đường tình dục từ gái mại dâm.
 
Hậu quả là tạo cho cộng đồng một ấn tượng xấu về bao cao su. Một vài cặp vợ chồng, mặc dù không nhiều, sử dụng vòng tránh thai. Trong suốt thời gian đầu, thử thách lớn nhất của Chương trình KHHGĐ là giới thiệu những phương pháp tránh thai an toàn và tin cậy. 

Do ngay từ đầu đã thiếu các biện pháp tránh thai dẫn đến nạo phá thai nhiều. Việc triển khai vòng tránh thai và các loại thuốc tránh thai vào giữa những năm 60 đã giúp chương trình vượt qua thử thách đầu tiên. Tỷ lệ các cặp vợ chồng thực hiện KHHGĐ tăng nhanh chóng, từ 16% năm 1965 lên 25% năm 1971, và 44% vào năm 1976. Hai biện pháp tránh thai này là 2 biện pháp KHHGĐ chính của chương trình đến tận giữa thập niên 70.
 
Năm 1976, chương trình bắt đầu coi triệt sản nữ là biện pháp chủ yếu để kiểm soát sinh và kể từ đó biện pháp triệt sản nữ đã trở nên phổ biến, như kết quả trình bày tại bảng 3.2. Với bước phát triển này, chương trình đã đánh dấu bước đột phá mới. 

Tỷ lệ phụ nữ có chồng sử dụng biện pháp tránh thai tăng một cách ấn tượng trong nửa đầu của thập niên 80 và tiếp tục tăng cho đến năm 1991. Tỷ lệ nam giới chấp nhận thắt ống dẫn tinh và sử dụng bao cao su để giảm sinh tăng kể từ năm 1971, trong khi các biện pháp tránh thai bằng thuốc đã giảm xuống ở mức không đáng kể, kể từ giữa thập niên 70. 

Nhìn chung, các cặp vợ chồng Hàn Quốc vẫn thích các biện pháp tránh thai nữ hơn là các biện pháp cho nam giới, mặc dù mức chênh lệch giữa tỷ lệ tránh thai ở nam giới và nữ giới đã được thu hẹp đáng kể. Hơn nữa, những biện pháp được sử dụng nhiều nhất đã trở nên đa dạng hơn kể từ năm 1982. 

Xu thế này xuất hiện ở các cặp vợ chồng ít phụ thuộc vào các chương trình quốc gia trong việc lựa chọn các biện pháp tránh thai và mức độ tham gia ngày càng nhiều của khu vực tư nhân trong dịch vụ tránh thai.
 
Trong năm 1965, 21% phụ nữa có chồng trong độ tuổi sinh đẻ ở khu vực thành thị sử dụng các biện pháp tránh thai; ở khu vực nông thôn, tỷ lệ này là 14%. Với việc khởi động Chương trình KHHGĐ vào giữa thập niên 60, sự khác biệt giữa thành thị và nông thông được thu hẹp. 

Trong những năm gần đây, khu vực nông thôn đã đạt được tỷ lệ sử dụng cao hơn khu vực thành thị. Những xu hướng này phản ánh sự thay đổi về cơ cấu tuổi của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại cả hai khu vực. Khoảng thời gian sinh đẻ của phụ nữ thành thị thường ngắn hơn phụ nữ nông thôn và hầu hết phụ nữ ở độ tuổi này chưa đạt được số con mong muốn. 

Một bước phát triển quan trọng khác là kết quả sử dụng các biện pháp tránh thai tại cả khu vực nông thôn và thành thị, đạt đỉnh điểm vào những năm đầu của thập niên 90.
 
Trong những năm đầu thực hiện chương trình, thị trường các dịch vụ tránh thai chưa phát triển và hiển nhiên Chính phủ là nguồn cung cấp chính các biện pháp tránh thai. Số liệu điều tra khảo sát trên phạm vi quốc gia cho thấy, khoảng 40% trong số những người sử dụng các biện pháp tránh thai đã mua phương tiện tránh thai trên thị trường trong năm 1973. 

Phần đông những người này sống tại thành thị, nơi họ có thể có được các biện pháp tránh thai từ các nhà thuốc và trung tâm y tế dễ hơn rất nhiều so với những người sống ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ các nhà cung cấp tư nhân tăng liên tục và ngày càng có nhiều các cặp vợ chồng nhận dịch vụ từ những nhà cung cấp tư nhân thay vì sử dụng các dịch vụ do Chính phủ cung cấp để thoả mãn nhu cầu tránh thai của họ. 

Một trong những lý do là các dịch vụ của Chính phủ chỉ hạn chế trong hai hoặc ba biện pháp thực sự có hiệu quả - phần lớn là đặt vòng trong những năm 60, triệt sản nữ trong những năm đầu của thập niên 70, và triệt sản nam từ cuối những năm 70.
 
Giáo sư xã hội học Tai-Hwan Kwon
Khoa xã hội học, Đại học Quốc gia Seoul
Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC