Ngày 26 Tháng 12, 2012 | 07:34 PM

Chính sách Dân số của Singapore (2)

Chính sách Dân số của Singapore (2)
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Nhân kỷ niệm quốc khánh 14/8/1983, Thủ tướng Lý Quang Diệu đã đưa ra số liệu của tổng điều tra dân số 1980 cho thấy: Phụ nữ có học vấn cao không đẻ đủ số con gái thay thế mình (vì họ thường muốn sống độc thân), nhưng phụ nữ có học vấn thấp thì đẻ nhiều.

Chính sách khuyến sinh có chọn lọc
 
 Thống kê cho thấy, phụ nữ có trình độ văn hoá thấp hoặc chưa bao giờ đến trường trung bình có 3,5 con trong khi những người có trình độ đại học có trung bình 1,65 con; đến tuổi 35 có tới 16% phụ nữ có trình độ đại học còn độc thân. Như vậy có mối quan hệ giữa trình độ học vấn và mức sinh.
 
Theo thủ tướng Lý Quang Diệu, hậu quả lâu dài của chênh lệch mức sinh theo trình độ học vấn sẽ làm cho đất nước suy yếu, tương lai của đất nước sẽ bị đe doạ vì những hậu quả tiêu cực về gene vì những cặp vợ chồng ít học nhất lại có nhiều con hơn cả.
 
Thủ tướng Lý Quang Diệu đã đề ra chính sách khuyến khích phụ nữ học vấn cao kết hôn, sinh con và đề ra khẩu hiệu “nếu bạn có học vấn, bạn có nghĩa vụ kết hôn và sinh đẻ tài năng cho tương lai”.

Chính sách khuyến sinh toàn diện

Năm 1987, do mức sinh giảm quá nhanh và xuống mức thấp, TFR còn 1,61 on năm 1985, Chính phủ bắt đầu có chính sách dân số mới (khuyến khích sinh thay giảm sinh, chú trọng chất lượng dân số, thành lập Ủy ban Dân số quốc gia và Ban hư ký Dân số trực thuộc Thủ tướng).
 
Tháng 3/1987, Phó Thủ tướng Lý Hiển Long tuyên bố chính sách dân số mới ới 3 mục tiêu: cổ vũ nhân dân thực hiện quy mô gia đình lớn hay sinh nhiều con; đẩy mạnh kết hôn; nhập cư hợp lý.
 
Các chính sách khuyến khích sinh chính thức tiếp tục được tăng cường, nhấn ạnh người có đủ khả năng nuôi dạy con tốt, có thể thực hiện quy mô gia đình từ 3 on trở lên, với thông điệp rất rõ ràng “hãy có 3 và nhiều hơn nếu có thể”. Để thực hiện mục tiêu khuyến sinh, Chính phủ ban hành nhiều chính sách tài chính và xã hội trực tiếp hỗ trợ gia đình, phụ nữ và trẻ em để khuyến khích kết hôn và sinh nhiều con, cụ thể là:
 
- Chính sách nhập cư hợp lý.
 
Chính sách nhập cư có điều kiện giữ vai trò quan trọng trong lịch sử nhân khẩu học và phát triển kinh tế của Singapore. Chính sách nhập cư của Singapore nhằm tối ưu hoá các lợi ích kinh tế do dân nhập cư mang lại đồng thời hạn chế tối đa chi phí xã hội và kinh tế. 

Việc tăng nhanh dân số nhập cư sẽ để lại những hệ luỵ về xã hội và chính trị, tuy nhiên đó là biện pháp để Singapore bổ sung lực lượng lao động, tăng thêm tiềm năng sinh sản và làm giảm bớt ảnh hưởng của dân số già hoá rất nhanh ở quốc gia đảo với quy mô dân số không lớn này. 

Mỗi năm dân số 65 tuổi trở lên tăng 3,7% (năm 2001, dân số 60 tuổi trở lên đạt tỷ lệ 11% tổng dân số). Dự báo, nhóm dân số già (từ 65 tuổi trở lên) sẽ gấp đôi từ 7% lên 14% tổng số dân chỉ trong 21 năm (ngắn hơn so với Nhật Bản là 26 năm) và là quốc gia được đánh giá là già hoá nhanh nhất thế giới cho tới thời điểm này.
 
Mục tiêu của chính sách nhập cư có điều kiện là tối ưu hóa các lợi ích kinh tế và hạn chế tối đa chi phí xã hội và kinh tế để bổ sung lực lượng lao động, tăng tiềm năng sinh sản và làm giảm bớt ảnh hưởng của dân số già hóa rất nhanh của Singapore. 

Chính sách cụ thể để nhập cư hợp lý là: đẩy mạnh nhập cư cho người tài; nhập cư cho người có đóng góp cho Singapore; thu hút người Singapore gốc Do thái nhập cư để tham gia xây dựng đất nước. Biện pháp thực hiện chính sách là khuyến khích kinh tế và tuyên truyền vận động (không thưởng phạt).

Kết quả thực hiện chính sách giảm sinh

Có thể đánh giá hiệu quả của chương trình KHHGĐ quốc gia bằng cách ước tính số trẻ em đã tránh sinh. Giả thiết cứ một năm sử dụng BPTT thì tránh sinh được một đứa trẻ, ước tính khoảng 25 vạn đứa trẻ đã không ra đời trong 10 năm từ 1967 đến 1976. 

Và chương trình đã có hiệu quả đạt được ¾ số đó, tỷ trọng đóng góp của chương trình đã tăng từ 27% (3.937 ca sinh) năm 1967 lên đến 88% (35. 725 ca sinh) vào năm 1976. Trong số các phương pháp tính số ca sinh tránh được thông qua chương trình, viên uống tránh thai đóng góp nhiều nhất (gần 54% số ca sinh tránh được), sau đó là triệt sản (19%) và bao cao su (15%).
 
B.T

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC