Ngày 21 Tháng 12, 2012 | 08:18 PM

Chính sách Dân số của Ấn Độ (2)

Chính sách Dân số của Ấn Độ (2)
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Chính sách dân số của Ấn Độ là giảm tỷ lệ sinh, chết và cuối cùng là giảm tỷ lệ phát triển dân số.

Chính sách giảm tỷ lệ tử vong

Sự phát triển quan trọng nhất liên quan đến giảm tỷ lệ tử vong là chính sách y tế quốc gia ban hành tháng 6/1981, gồm những nội dung: chăm sóc sức khỏe ban đầu; giáo dục sức khỏe; tăng cường sức khỏe; cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng; cung cấp nước sạch và đảm bảo vệ sinh công cộng; dịch vụ y tế công cộng;  dịch vụ sức khỏe cho bà mẹ trẻ em và sức khỏe cho trẻ em ở tuổi đi học; dịch vụ chữa bệnh; đóng góp vào hệ thông y tế; phát triển sức khỏe con người; kế hoạch hóa sức khỏe và hệ thống thông tin y tế; công nghiệp thuốc; nghiên cứu; bảo hiểm sức khỏe quốc gia; nâng cao sức khỏe liên quan tới các lĩnh vực nông nghiệp, cung cấp nước, hệ thống thoát nước, giáo dục truyền thống, môi trường.
 
Kết quả đạt được

Ấn Độ là nước đông dân thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc với tổng số dân năm 1985 là 762 triệu người. Tỷ lệ phát triển dân số là 2%. Ấn Độ là một nước có truyền thống tiến hành điều tra dân số 10 năm một lần kể từ năm 1901 đến năm 1981.

Chính sách dân số của Ấn Độ là giảm tỷ lệ sinh, chết và cuối cùng là giảm tỷ lệ phát triển dân số. Tỷ lệ sinh giảm từ 41,7‰ xuống 31,5‰ vào năm 1985. Tương tự, tỷ lệ chết của giảm từ 22,8‰ năm 1961 xuống 11,6‰ cùng vào giai đoạn trên. Tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi vẫn còn cao, khoảng 10,5‰. Tuổi thọ trung bình lúc sinh năm 1985 của nam là 56,7 năm, của nữ là 56,6 năm.
 
Do Ấn Độ vẫn còn tập quán nặng nề trọng nam khinh nữ, dẫn đến tỷ lệ chết của trẻ em nữ rất cao, tuổi thọ bình quân của nữ thấp. Phụ nữ Ấn Độ lấy chồng sớm, tuổi kết hôn trung bình của nữ giai đoạn 1951-1961 là 15,53 tuổi, giai đoạn 1961-1871 tăng lên 17,1 tuổi. Tỷ lệ sinh tổng cộng đã giảm từ 5,8 con bình quân trên một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (1960-1965) xuống 4,2 con trên một người mẹ năm 1985.
 
B.T

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC