Ngày 24 Tháng 12, 2012 | 01:59 PM

Các chính sách và chương trình dân số tại Nhật Bản (1)

Các chính sách và chương trình dân số tại Nhật Bản (1)
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Không giống như những quốc gia Đông Á khác, Chính phủ Nhật Bản không bảo trợ cho chương trình KHHGĐ trong suốt quá trình quá độ dân số, trừ một khoảng thời gian rất ngắn.

Theo kết quả điều tra khảo sát định kỳ của Ban Dân số Liên Hiệp Quốc về những chính sách và chương trình dân số được ban hành chính thức, hành động cụ thể duy nhất của Chính phủ Nhật Bản trong việc tác động đến các xu thế dân số là nỗ lực điều chỉnh phân bố dân cư theo vùng tại Nhật Bản (Ban Dân số Liên Hiệp Quốc, 1995). Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu suy luận rằng Chính phủ không quan tâm đến các vấn đề dân số hay không hoạch định chính sách dân số.
 
Cũng như các quốc gia khác, những đặc trưng dân số của Nhật Bản có quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế, và Chính phủ đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển này. Vậy thì tại sao Chính phủ lại không bảo trợ cho chương trình KHHGĐ? Tại sao mức sinh lại giảm tại Nhật Bản trong khi thiếu một chương trình như vậy? Những biến động dân số đã tác động đến phát triển kinh tế như thế nào và Chính phủ có vai trò gì trong việc định hướng các xu thế dân số để đáp ứng các nhu cầu kinh tế?
 
Chương này tập trung kiểm điểm từng bước phát triển của các chính sách dân số Nhật Bản và các mối quan hệ tương tác giữa những chính sách này với phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại hoá, đặc biệt là sau Đại chiến Thế giới thứ II. 

Để xác định rõ, tác giả định nghĩa chính sách dân số là chính sách do Chính phủ tuyên bố nhằm chủ yếu tác động đến quy mô, cơ cấu dân số và phân bố dân cư, và chương trình dân số là những biện pháp hành chính và pháp luật được Chính phủ ban hành nhằm đạt được những mục tiêu chính sách đó. 

Các chính sách dân số thường trực tiếp tác động đến mức sinh vì mức sinh ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng và cơ cấu dân số. Nói đúng ra, những chính sách nhằm cải thiện các điều kiện sức khoẻ của dân cư không được coi là chính sách dân số vì các mục tiêu y tế được xác định mà không tính đến những hệ quả dân số. 

Tuy nhiên, các biện pháp y tế cũng gây nên những ảnh hưởng về mặt dân số (Y. Okazaki 1997, 9-10), và vì thế mà tác giả sẽ đề cập đến vần đề này trong nghiên cứu của mình. Các chính sách có định hướng tác động đến di cư nội địa và quốc tế là những chính sách dân số vì tác động trực tiếp đến phân bố dân cư, mặc dù các mục tiêu trước mắt của những chính sách này chủ yếu nhằm phục vụ các mục đích kinh tế và xã hội chứ không phải vì mục đích dân số. 

Do vậy, nghiên cứu dưới đây được chia thành hai phần: các chính sách về tăng trưởng dân số và chính sách phân bố dân cư. 
 
Chính sách dân số Nhật Bản trong thời kỳ hiện đại (từ giữa thế kỷ XIX) được thực hiện trong 4 giai đoạn liên tiếp, tương ứng với 4 xu thế dân số riêng biệt. Đó là (1) thời kỳ trước khi kết thúc Đại chiến Thế giới thứ II; (2) Thời kỳ bùng nổ dân số sau chiến tranh và tiếp theo là mức sinh giảm mạnh trong bối cảnh điều kiện kinh tế khó khăn; (3) Thời kỳ mức sinh thấp ổn định cùng với tăng trưởng kinh tế nhanh; và (4) Thời kỳ hiện nay, mức sinh không đủ thay thế và tăng trưởng kinh tế chậm lại.
 
Còn tiếp
 
Giáo sư Shunichi Inoue
Trường Cao đẳng Khoa học và Nhân văn (Đại học Nihon, Tokyo)
(Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC