Ngày 20 Tháng 11, 2013 | 08:00 AM

Biến động dân số và phát triển kinh tế ở Đông Á: Thách thức và Cơ hội

Biến động dân số và phát triển kinh tế ở Đông Á: Thách thức và Cơ hội
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Thế kỷ XX là giai đoạn biến động dân số chưa từng có trong lịch sử. Dân số toàn cầu đã tăng gần gấp bốn, từ 1,6 tỷ người năm 1900 lên 6 tỷ người năm 2000 (Cohen 1995, App.2, 400-401; UN 1998).

Tỷ lệ gia tăng dân số, đặc biệt trong thế giới đang phát triển, tăng nhanh hơn trong suốt nửa đầu thế kỷ và đạt đỉnh điểm vào cuối những năm 1960. Phản ứng đối với tình trạng gia tăng nhanh dân số cũng là chưa từng có trong lịch sử. Những quan ngại về ảnh hưởng của gia tăng nhanh dân số đối với môi trường và kinh tế đã thúc đẩy Liên Hợp Quốc, các cơ quan viện trợ song phương của nước ngoài, các tổ chức đa phương cũng như các quỹ tư nhân đã đầu tư hàng tỷ đô la vào các chương trình dân số. Chính phủ nhiều nước đang phát triển, đặc biệt ở châu Á, đã theo đuổi mạnh mẽ những chính sách nhằm làm chậm tốc độ gia tăng dân số.

Các quốc gia Đông Á nằm trong số những quốc gia đi đầu và tích cực trong chính sách dân số. Ngay từ đầu những năm 1960, nhiều nước đang phát triển ở Đông Á đã từ bỏ những chính sách khuyến sinh, xác định ổn định dân số là mục tiêu phát triển quốc gia và đã thông qua rất nhiều chương trình tổng thể nhằm làm chậm tốc độ gia tăng dân số. Thoáng nhìn, kinh nghiệm Đông Á tưởng như đã hỗ trợ mạnh mẽ cho các chính sách ổn định dân số. Tỷ lệ sinh và tỷ lệ gia tăng dân số ở khu vực này đã giảm nhanh hơn so với các khu vực khác của thế giới đang phát triển cũng như những quốc gia đã hoàn thành công nghiệp hoá. Trong cùng thời kỳ, các quốc gia Đông Á đã đạt được những thành công về kinh tế chưa từng có trong lịch sử. Trong ba thập niên, 1960-90, các quốc gia đó đã chuyển từ khu vực tụt hậu sang khu vực năng động nhất của kinh tế thế giới. Những đất nước nghèo khổ vào năm 1960 đã được xếp hạng và trong một số lĩnh vực đã vượt cả những nước có mức thu nhập cao ở phương Tây.

Các cuộc nghiên cứu đã kiểm định kinh nghiệm của sáu nền kinh tế Đông Á thời kỳ 1960-90 gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xinh-ga-po, Thái Lan và In-đô-nê-xia. Những quốc gia này được lựa chọn vì một số lý do.
 
Thứ nhất, các quốc gia đó nằm trong nhóm các quốc gia đang phát triển đầu tiên đạt mức sinh thấp, thấp đến mức đủ để đạt được tăng trưởng dân số bằng 0 hoặc tăng trưởng âm, trừ In-đô-nê-xia. Chuyển đổi từ mức sinh cao sang sinh thấp đã được cô đọng lại vì chúng ta đã thực sự đạt được thành tích trong thời kỳ quá độ dân số và những đổi thay về kinh tế đi kèm. Những biến động dân số – giảm mức sinh, tăng tuổi thọ trung bình và những làn sóng cơ cấu tuổi – là khá rõ nét đến mức những tác động của dân số đối với phát triển sẽ hiện hữu nếu dân số thực sự là vấn đề.

Thứ hai, Chính phủ các quốc gia Đông Á đã sớm thay đổi quyết sách đối với dân số ngay từ kỷ nguyên hậu Đại chiến thế giới thứ 2. Họ đã từ bỏ quan điểm đông dân và tăng trưởng dân số là sức mạnh của quốc gia đồng thời theo đuổi quan điểm tăng trưởng dân số là mối đe doạ đối với các mục tiêu phát triển. Trong khoảng thời gian tương đối ngắn, các chính sách khuyến sinh đã bị bãi bỏ và chỉ một thời gian sau, đủ các loại chương trình và chính sách hạn chế sinh đẻ đã được thông qua. Chính phủ các quốc gia đã tham gia vào các chương trình giáo dục, tăng cường cung ứng và tổ chức thực hiện các dịch vụ tránh thai, thuyết phục công dân chấp nhận chuẩn mực gia đình ít con và thực hiện các chính sách thưởng phạt để khuyến khích các cặp vợ chồng sinh ít con hơn. Tuy nhiên, ở những nước được khảo sát này đã không phải sử dụng đến các chương trình mang tính áp đặt, cưỡng bức giống như chương trình triệt sản bắt buộc tồn tại trong một thời gian ngắn ở Ấn Độ hay chính sách một con của Trung Quốc.

Thứ ba, kinh nghiệm Đông Á đáng để học hỏi vì môi trường thực thi chính sách chưa thật hoàn thiện. Nhiều học giả vẫn khư khư quan điểm rằng gia tăng nhanh dân số làm tăng chi phí của chính sách kinh tế nghèo nàn. Tuy vậy, cũng không thấy rõ lắm tác động của các biến dân số trong một môi trường hoạch định và thực thi chính sách chưa hoàn thiện. Dĩ nhiên, các quốc gia Đông Á cũng đã mắc phải những sai lầm, ví dụ như những sự kiện xảy ra gần đây đã minh chứng khá thuyết phục, nhưng vài nước đã đạt được thành tích trước kỷ nguyên hậu Đại chiến thế giới thứ 2.

Tuy kinh nghiệm có thể chia sẻ được của sáu nền kinh tế này đã thúc đẩy tìm tòi nghiên cứu song những khác biệt giữa các quốc gia này cũng đáng để học hỏi. Những nền kinh tế này bao trùm phạm vi khá rộng về những điều kiện thực tế về phát triển và dân số. Mức thu nhập ở Nhật Bản và Xinh-ga-po rõ ràng cao hơn ở Thái Lan và In-đô-nê-xia vào năm 1960. Trung bình mỗi phụ nữ Nhật Bản chỉ sinh hai con vào năm 1960, trong khi đó mức sinh ở In-đô-nê-xia chỉ mới bắt đầu giảm vào những năm cuối của thập niên 60. In-đô-nê-xia và Nhật Bản nằm trong số những nước có quy mô dân số lớn nhất thế giới trong khi Xinh-ga-po nằm trong số những nước có quy mô dân số nhỏ nhất. Nhập cư là một thành tố quan trọng trong biến động dân số chỉ ở Xinh-ga-po, ngoài ra không xuất hiện ở các quốc gia khác. Những khác biệt về dân số và kinh tế của các vùng ở Thái Lan và In-đô-nê-xia là khá quan trọng để hiểu được về sự phát triển của hai quốc gia này và giúp thấy rõ hơn so với trường hợp của Đài Loan hay Hàn Quốc. Vào khoảng năm 1960, các nước Đông Bắc Á có mật độ dân cư cao nhưng lại hạn chế về nguồn tài nguyên thiên nhiên. Mặt khác, vào năm 1960 Thái Lan vẫn đang sử dụng đất đai vào canh tác và trong suốt thập niên 70 In-đô-nê-xia phát triển chủ yếu do có trữ lượng dầu mỏ lớn.
  
 Andrew Mason
Giáo sư kinh tế, Khoa Kinh tế, Đại học Hawai, và ủy viên cao cấp của Trung tâm Đông-Tây, Honolulu.
(Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC