Ngày 25 Tháng 12, 2012 | 06:00 AM

Bài học kinh nghiệm từ chính sách và chương trình dân số ở Nhật Bản

Bài học kinh nghiệm từ chính sách và chương trình dân số ở Nhật Bản
  MỚI NHẤT

GiadinhNet -Thời gian được hưởng dư lợi dân số diễn ra rất ngắn. Nếu một nền kinh tế thất bại trong việc hưởng dư lợi dân số thì sẽ nhanh chóng phải đối mặt với cái gọi là bất lợi dân số.

Từ giữa thế kỷ XIX, sự gia tăng dân số đáng kể đã song hành cùng công cuộc hiện đại hoá và bùng nổ kinh tế của Nhật Bản. Trong suốt giai đoạn đầu tiên của lịch sử cận đại, cho đến khi Đại chiến thế giới thứ II kết thúc, Nhật Bản theo đuổi hai mục tiêu quốc gia: Thịnh vượng và sức mạnh quân sự. Để có được sức mạnh quân sự, Chính phủ tìm cách gia tăng dân số. 

Chính phủ khuyến khích mức sinh cao và cấm các hoạt động kiểm soát sinh. Tuy nhiên, chính sách này không hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của Chính phủ là xây dựng một quốc gia thịnh vượng. Tốc độ tăng trưởng dân số nhanh vượt lên trên tất cả những đòi hỏi của nền kinh tế và năng lực việc làm, tạo ra nạn thất nghiệp và thiếu việc làm nghiêm trọng, đặc biệt tại các khu vực nông thôn. 

Tuy nhiên, bất chấp chính sách phát triển dân số của Chính phủ, mức sinh vẫn giảm, đi cùng là những thay đổi xã hội bắt đầu vào khoảng những năm 20. Nó vẫn tiếp diễn cho đến hiện tại trừ một số thời gian gián đoạn ngắn.
 
Trong giai đoạn thứ hai bắt đầu sau Đại chiến thế giới thứ II, tăng trưởng dân số và phát triển kinh tế duy trì một quan hệ đôi bên cùng có lợi, một phần là do thời điểm tăng trưởng kinh tế bất ngờ, và một phần do chính sách dân số tự do của Chính phủ.
 
Ngay sau Đại chiến Thế giới thứ II, Chính phủ thực hiện một bước tiến mạnh mẽ trong việc hợp pháp hoá nạo phá thai. Bất chấp tác động đáng kể đối với các vấn đề ưu sinh, nhưng nói một cách chính thống, biện pháp này không phải là chính sách dân số. 

Tuy nhiên, dường như hiện tại đã rõ ràng hơn, rằng đó là biện pháp nhằm mục đích giúp đất nước vượt qua những khó khăn kinh tế thời kỳ sau chiến tranh. Nhìn lại quá khứ, đây là một chính sách dân số không chính thức xác định rõ các mục tiêu kinh tế và xã hội. 

Nhưng sự tự nguyện và nhanh chóng chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai của đại bộ phận dân số đã buộc Chính phủ phải điều chỉnh lại mức sinh. Tăng trưởng trong các lĩnh vực kinh tế hiện đại và giáo dục bắt buộc áp dụng cho cả nam và nữ đã giúp tạo lập mô hình gia đình ít con của Nhật Bản.
 
Trong suốt 25 năm đầu sau chiến tranh, lực lượng lao động tiếp tục tăng trưởng nhanh, đây cũng là kết quả của mức sinh cao tồn tại trong những năm trước chiến tranh và bùng nổ sinh bù sau chiến tranh. Lượng cung ứng lao động lớn, cùng với sự tái phân bố lực lượng lao động từ các khu vực nông thôn đến thành thị, đã giúp việc mở rộng các ngành công nghiệp nặng và hoá chất. Trong khi đó, Chính phủ vẫn duy trì chính sách dân số tự do, cho phép các cặp vợ chồng thực hiện KHHGĐ.
 
Khi nhu cầu công nghiệp về lao động bổ sung đột nhiên suy giảm vào giữa những năm 70, tác động của mức sinh thấp, ổn định trở nên rõ ràng hơn, vì số lao động trẻ tham gia vào thị trường lao động ít hơn. Trong những năm 80 và 90, khi nguồn cung lao động nội địa suy giảm và tình trạng khan hiếm lao động trở nên trầm trọng, một lượng lớn vốn và công nghệ của Nhật Bản đã được chuyển ra nước ngoài, do vậy đã giảm được sức ép của nguồn cung lao động trong nước một cách hiệu quả. 

Tóm lại, Nhật Bản đã phải đối mặt với hai bức tranh dân số kể từ Đại chiến thế giới thứ II. Bức tranh đầu tiên là tăng trưởng dân số với tốc độ nhanh ngay sau chiến tranh. Thứ hai là viễn cảnh thực tại của một bộ phận dân số già ngày càng tăng. Trong cả hai trường hợp, chính sách của Chính phủ là rất hạn chế.
 
Trước đó, Chính phủ loại bỏ hầu hết các trở ngại pháp lý về kiểm soát sinh, bao gồm cả nạo phá thai, phó mặc các hoạt động KHHGĐ cho các cá nhân và các tổ chức tư nhân. Trong những năm gần đây, Chính phủ đã tiến hành những nghiên cứu về quan hệ giữa các xu thế dân số và thay đổi kinh tế xã hội và đã nhận thức được những ảnh hưởng đối kinh tế xã hội do mức sinh thấp chưa từng có ở Nhật Bản. Tuy nhiên, Chính phủ đã từ chối thực hiện chính sách khuyến sinh để giải quyết thực trạng dân số.
 
Rõ ràng là các chính sách hiện tại của Chính phủ phù hợp với tinh thần hiến pháp tôn trọng tự do và lòng tự trọng của mỗi cá nhân. Tháng 10/1998, Hội đồng Tư vấn Dân số của Bộ Y tế và Phúc lợi đã trình báo cáo mới nhất, và Thủ tướng Nhật Bản đã tổ chức một nhóm công tác để đưa ra các vấn đề về mức sinh thấp. 

Những lựa chọn chính sách của cả hai nhóm chủ yếu nhằm cải thiện các điều kiện nuôi con của các bà mẹ đang làm việc và khuyến khích các mô hình sống mới có thể thay thế phân chia lao động truyền thống giữa vợ và chồng.
 
Các biện pháp này dường như là cách gián tiếp và khá yếu để tăng mức sinh (Ozaki và Kaizuka 1994, 41-45). Trong các khía cạnh khác, chính sách của Chính phủ có thể được miêu tả là một “phản ứng với triệu chứng” khi nó không đưa ra được nguyên nhân của tình hình – mức sinh dưới mức thay thế - mà lại tập trung vào các biện pháp xoa dịu. 

Hiện tại, Chính phủ đang điều chỉnh các hệ thống bảo hiểm y tế, trợ cấp và phúc lợi xã hội cho người già nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính lên vai nhóm dân số trong độ tuổi lao động do số lượng người già ngày càng tăng.
 
Chính phủ không thực hiện những bước đi trực tiếp để khuyến khích mức sinh cao hơn. Tuy nhiên các chính sách và chương trình nhằm cải thiện phúc lợi gia đình, vị thế phụ nữ, và đặc biệt là hoàn cảnh khó khăn của các bà mẹ đang làm việc chưa mang lại những tác động dân số đáng kể hay khả quan. 

Hơn nữa, việc Chính phủ gần đây thờ ơ với việc áp dụng chính sách khuyến sinh một phần là do thất bại của Nhật Bản trong việc áp dụng chính sách này trước và trong suốt Đại chiến thế giới thứ II. Nỗ lực ngăn cản sử dụng các biện pháp kiểm soát sinh trong thời kỳ đầu của thế kỷ XX là không hiệu quả. 

Tuy nhiên, nếu Chính phủ không hạn chế việc phổ biến các thông tin KHHGĐ, quá trình quá độ dân số ở Nhật Bản đã có thể xảy ra êm thuận hơn. Rất nhiều vấn đề xã hội, như tình trạng thất nghiệp trầm trọng tại các thành phố và làng mạc, về cơ bản đưa đất nước vào chiến tranh, có thể đã không xảy ra. 

Một bài học quan trọng từ kinh nghiệm của Nhật Bản rằng thời gian được hưởng dư lợi dân số diễn ra rất ngắn. Nếu một nền kinh tế thất bại trong việc hưởng dư lợi dân số thì sẽ nhanh chóng phải đối mặt với cái gọi là bất lợi dân số.
 
Sự gia tăng lực lượng lao động Nhật Bản là những lợi thế đối với bùng nổ kinh tế trong thập kỷ 50 và 60. Tỷ lệ dân số phụ thuộc trẻ so với dân số trong độ tuổi lao động ở mức thấp, kết quả của mức sinh thấp trong những năm 50 và 60, đã khuyến khích đầu tư, nạp nhiên liệu cho tăng trưởng kinh tế. 

Tuy nhiên, thời kỳ triển vọng này trôi qua nhanh chóng. Với sự suy giảm dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm 70, viễn cảnh dân số già ngày càng nhiều và các vấn đề do dân số già đã xuất hiện. Giai đoạn quá độ dân số mới đã đặt ra những thách thức chưa từng có trong lịch sử.
 
Giáo sư Shunichi Inoue
Trường cao đẳng khoa học và nhân văn (Đại học Nihon, Tokyo)
Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC