Ngày 29 Tháng 12, 2011 | 08:44 PM

17 năm “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”

17 năm “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”
  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Đó là hình ảnh chị H’ Ă Niê ở Buôn KaNa B (xã CưM’gar, Đăk Lăk).

Chị H’ Ă Niê (đứng thứ hai từ phải qua) đang tư vấn sử dụng thuốc uống tránh thai cho đối tượng.

Chị H’ Ă Niê có thời gian công tác trong ngành dân số  được 17 năm. Từ năm 1994 - 2000 chị là CTV dân số, từ năm 2001 - 2010 là cán bộ chuyên trách dân số xã, từ tháng 4/2011 đến nay là cộng tác viên dân số tích cực.

Về xã CưM’gar, hỏi thăm chị H’ Ă Niê, cựu cộng tác viên, cán bộ chuyên trách xã, không ai là không biết. Bởi 17 năm nay, cán bộ và nhân dân xã đã quen với hình ảnh một nữ cán bộ dân số  ngày nào cũng cắp cặp xuống các thôn, buôn tuyên truyền, vận động các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai, đẻ ít, đẻ thưa để có điều kiện chăm sóc, nuôi dạy con cái.

Bén duyên với công tác dân số từ năm 1994, lúc bấy giờ cuộc sống của bà con trong xã nói chung và buôn chị quản lý (Kana B) hết sức khó khăn, thiếu thốn. Nhiều gia đình mặc dù nghèo khó, con cái không được học hành tới nơi tới chốn nhưng vẫn thích sinh đông con.
 
Nhận thức của người dân về vấn đề DS-KHHGĐ còn nhiều hạn chế, việc chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em còn nhiều bất cập, nhiều trẻ bị suy dinh dưỡng, phụ nữ mang thai ít được đi khám thai tại cơ sở y tế.

Từ khi làm dân số, chị hiểu thêm được vai trò của cộng tác viên là hết sức quan trọng, nhưng làm thế nào để giúp người dân thay đổi cách suy nghĩ về “trời sinh voi sinh cỏ”, “đông con lắm của”, sinh thêm con để có thêm người làm nương rẫy… là việc không phải dễ dàng.

Địa bàn chị quản lý chủ yếu là người dân tộc Êđê (85%) còn lại là dân tộc Kinh (15%) nên quan niệm sinh con cũng có phần khác nhau. Người dân tộc Kinh sinh nhiều con tập trung nhiều ở các gia đình chưa có con trai, họ muốn sinh con trai chủ yếu là để nối dõi tông đường, chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ lúc về già. Người Êđê thì ngược lại, họ theo chế độ mẫu hệ, con gái lấy chồng thì chồng về ở rể, con sinh ra lấy họ mẹ, bố mẹ ở với con gái, do đó họ lại thích sinh con gái hơn.

Để giúp người dân hiểu được lợi ích của công tác DS-KHHGĐ, chị đã tìm đủ mọi cách để tuyên truyền cho bà con, trước hết là người thân trong gia đình mình, tiếp đến là những người hàng xóm.
 
Tuy nhiên, trong các biện pháp tránh thai thì đình sản là biện pháp khó vận động nhất, khi đó để vận động được một người phụ nữ đi đình sản là cả một vấn đề, vì nhiều người cho rằng đó là “đi thiến”, sau này sẽ không được bình thường.
 
Cùng với những kiến thức đọc được từ sách vở, các buổi tập huấn do cấp trên tổ chức, chị đã chỉ bảo tường tận cho các chị em những ưu, nhược điểm của các biện pháp tránh thai, từng đối tượng phù hợp với từng biện pháp tránh thai… bằng sự kiên trì, bền bỉ, lồng ghép tuyên truyền, vận động trong các buổi họp buôn, sinh hoạt phụ nữ, nông dân…
 
Không dừng lại ở đó, buổi tối chị cũng tranh thủ đến các hộ gia đình để vận động, thuyết phục họ không sinh nhiều con, thực hiện biện pháp tránh thai để tránh sinh con ngoài ý muốn. Mưa dầm thấm lâu, dần dần chị đã thuyết phục được một số chị em đã có 2 con, 3 con đi đình sản.
 
Càng tự hào hơn khi xã của chị là một trong những địa phương có người đi đình sản đầu tiên trong huyện. Tiếng lành đồn xa, khi thấy các chị em đi đình sản về vẫn khỏe mạnh bình thường, nhiều người còn mập ra, đặc biệt là không ảnh hưởng gì đến chuyện sinh hoạt vợ chồng, thế là người này kháo người kia, thậm chí có người đến xin chị được đi đình sản.
 
Nhờ những cố gắng, nỗ lực không mệt mỏi của mình, với cương vị là cộng tác viên hay cán bộ chuyên trách, chị đều hoàn thành và vượt các chỉ tiêu mà cấp trên giao, đặc biệt là đình sản.
 
Nhờ những nỗ lực của chị nên tỷ lệ sinh và sinh con thứ 3 ngày càng giảm, số phụ nữ mang thai đều được khám thai tại cơ sở y tế, số trẻ em đến tuổi đi học đều được đến trường. Điều đáng mừng là ngày càng nhiều ông chồng sẵn sàng chia sẻ với các bà vợ trong việc thực hiện chăm sóc và nuôi dạy con cái, thực hiện các biện pháp tránh thai, dành thời gian để phát triển kinh tế gia đình.
 
Về buôn KaNa những ngày này, chứng kiến cuộc sống của bà con đang ngày càng khởi sắc, những ngôi nhà mới khang trang lại mọc lên, những đứa trẻ tung tăng cắp sách tới trường, để có được những thành quả như ngày hôm nay, có sự đóng góp không nhỏ của chị H’ Ă Niê, người 17 năm gắn bó miệt mài với công tác dân số của buôn.
 
Hiện tại buôn Kana B chị quản lý hiện có 112 hộ, với 560 khẩu, trong đó dân tộc Êđê là 85 hộ, còn lại là người dân tộc Kinh. Số phụ nữ 15-49 tuổi có chồng là 118 chị, chiếm gần 22% dân số toàn buôn. Trong thời gian qua, nhờ đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động nên tỷ lệ các cặp vợ chống trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai ngày càng tăng.
 
Toàn buôn hiện có 76 chị sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, trong đó đình sản 09 người, đặt vòng là 34 người, thuốc uống 27 người, bao cao su 6 người, đưa tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại toàn buôn lên 64,4%.
                                                                       
Đình Quân
( Trung tâm DS-KHHGĐ huyện CưM’gar, Đăk Lăk)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC