Ngày 15 Tháng 4, 2015 | 10:15 AM

Vẻ đẹp của cô giáo trẻ gửi tuổi thanh xuân nơi núi rừng

  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Vốn là một thiếu nữ thành thị, cô giáo Nguyễn Thị Tuyết (22 tuổi, trú tại TP Lào Cai) đã rất hoang mang, sợ hãi khi lần đầu chứng kiến những con đường đá lởm chởm dài hàng chục cây số, những mái nhà “nửa kín, nửa hở” ngập chìm trong sương, sự khắc nghiệt, vắng lặng của núi rừng… Nhưng khi chứng kiến các em nhỏ người dân tộc bụng đói, chân trần hàng ngày vượt rừng tới lớp, cô đã vượt lên tất cả để gắn bó với sự nghiệp trồng người nơi thâm sơn cùng cốc.

 

 

Cô Tuyết bên những học trò vùng cao. Ảnh: Xuân Mai
Cô Tuyết bên những học trò vùng cao. Ảnh: Xuân Mai

 

Từng muốn chạy trốn

Cô giáo Nguyễn Thị Tuyết sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả ở TP Lào Cai. Lối sống tiểu thư in đậm trên làn da trắng, mái tóc dài, những ngón tay búp măng thon, gọn của cô. Mơ ước trở thành nhân viên ngân hàng từ nhỏ, nhưng bởi ông ngoại và mẹ mong muốn có người con làm nghề giáo nên Tuyết đã thi vào ngành sư phạm. Trở thành cô giáo như mẹ ước ao, nhưng nụ cười hạnh phúc của cô gái trẻ chẳng tròn trĩnh khi nhận được quyết định về vùng núi rừng Bát Xát (một huyện nghèo phía Nam tỉnh Lào Cai) công tác. “Mình run run, mường tượng về cuộc sống thiếu điện, thiếu nước, thiếu sự ồn ào, náo nhiệt. Mình đã muốn lựa chọn lại, nhưng mẹ mình nói hãy cứ đứng trên bục giảng dạy những đứa trẻ dân tộc một lần rồi quyết định. Và mình làm theo”, Tuyết kể.

Khoảng tháng 9/2013, ngày đầu tiên tới nhận nhiệm vụ tại Trường Tiểu học Pa Cheo (huyện Bát Xát), trong đầu cô gái trẻ bộn bề nỗi lo. Khi về khu nội trú, Tuyết không thể tin đó là “tổ ấm” của mình. Đó chỉ là một “túp lều” xiêu vẹo làm bằng nứa, xung quanh thủng lỗ chỗ, phải quây bằng những tấm bạt rách. Cửa nhà không thể đóng, chỉ có thể khép hờ rồi dùng thanh nứa chống. Tuần đầu tiên, vì chưa chuẩn bị được chăn ấm, Tuyết phải ngủ trong cái lạnh thấu xương.

Xung quanh phân hiệu trường không có nước, cô và các thầy cô giáo phải ra suối lấy nước vào can rồi “cõng” về dùng dần. Từ suối về bản dài mấy cây số, đường đá khó đi. Nhìn các thầy cô khác đi phăng phăng, Tuyết vừa phục vừa thương, bởi chắc chắn họ cũng đã phải bầm vai tím thịt trong suốt thời gian đầu rồi mới chai sạn như bây giờ.

Ngày đầu đứng lớp, ngó lớp học xiêu vẹo, bàn ghế ọp ẹp, học sinh lưa thưa, mặt đứa nào cũng lấm lem bùn đất… trong Tuyết dâng lên những cảm xúc khó tả. Lần đầu tiên sau hơn một tuần sống tại Pa Cheo, Tuyết không còn nghĩ đến nỗi khổ của mình mà chỉ thấy thương những đứa nhỏ.

Tuyết chia sẻ: Trẻ em ở đây đi học bằng cái bụng đói, đôi chân trần, vành môi thâm tím. Nhà xa, không thể về ăn trưa, các em đựng cơm vào túi nilon đem tới lớp. Màu cơm thay đổi theo thời gian, gần vụ gặt thì màu trắng, xa vụ gặt thì màu vàng bởi phải độn thêm ngô. Chúng cứ mặc mãi một bộ quần áo cho đến khi nó trở thành màu của bùn đất.

Nhìn cuộc sống của mình, của trò, Tuyết hoài nghi, liệu ở vùng đất đá lởm chởm này, cái chữ gieo xuống có gặt hái được ấm no, hạnh phúc hay đó mãi mãi chỉ là phép màu mà những đứa trẻ vùng núi kia ngóng chờ một bà tiên đem đến? Đã có lúc cô giáo trẻ muốn chạy trốn khỏi bản nghèo hoang vu về với nơi đô thị náo nhiệt.

Yêu nghề, yêu bản

 

Những lá thư của học trò là động lực giúp Tuyết càng thêm gắn bó với bản làng.
Những lá thư của học trò là động lực giúp Tuyết càng thêm gắn bó với bản làng.

 

Thời gian trôi qua, Tuyết dần hiểu được cuộc sống khó khăn, thiếu thốn của những người dân nơi đây, đủ để cô cảm nhận rõ được sự nhiệt huyết, yêu nghề, yêu người và những trăn trở của đồng nghiệp. Chính nghị lực của đồng nghiệp đã giúp cô can đảm vượt qua nỗi sợ.

Trường Tiểu học Pa Cheo, nơi cô giáo trẻ giảng dạy có 7 phân hiệu nhỏ và 420 em học sinh từ lớp 1 đến lớp 5. Tuyết cho biết, từ trung tâm xã đến bản xa nhất khoảng 20km, trong đó có 12km phải đi bộ xuyên rừng, đường đá lởm chởm khó đi. Do Pa Cheo có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao nên để vào được các thôn, bản dạy học, các thầy cô phải di chuyển bằng xe máy, có đoạn phải đi bộ. “Buổi sáng các cô lên trường từ rất sớm, nếu thấy thiếu học sinh lại lặn lội vào bản vận động. Có em đang ăn dở thì thầy cô bón cho ăn, có em đang làm dở thì thầy cô làm giúp cho nhanh xong rồi đưa đến trường”, Tuyết chia sẻ.

Từ việc muốn chạy trốn khỏi bản nghèo, Tuyết quyết định gắn bó và cống hiến cho mảnh đất này. Bắt đầu là từ suy nghĩ, cô thừa nhận mình đã lớn, rời khỏi vòng tay gia đình, bắt đầu cuộc sống độc lập. Tuyết hòa vào cuộc sống của những người đồng nghiệp đi trước. Ban ngày, Tuyết đến lớp dạy chữ, dạy học sinh múa hát, hoạt động đội… Tối đến, cô đi điều tra phổ cập, vận động trẻ em đến trường. Giờ rảnh, Tuyết cùng các thầy cô khác ra suối lấy nước về sinh hoạt, không quên hái những nhánh hoa rừng về trang trí cho căn phòng bằng nứa.

Có lẽ, động lực lớn nhất để Tuyết từ giận sang yêu bản nghèo là sự chân thật của học sinh và người dân nơi đây. Tuyết kể, có lần mải chấm bài mà quên nấu cơm tối, một phụ huynh đi làm nương ngang qua hỏi “Cô giáo ăn cơm chưa”, Tuyết tiện miệng đùa “Nhà hết gạo nên cháu chưa có cái nấu”. Nào ngờ, lúc sau có em học sinh chạy sang đem theo một đĩa sắn bảo “Bố bảo con đem sang cho cô ăn tối, mai còn có sức dạy học”. Nhìn đứa trẻ môi tím tái, chạy mấy cây số chỉ để đem cho cô khúc sắn, Tuyết vừa hối hận, vừa hạnh phúc.

Không thể váy áo lộng lẫy đến trường nhưng cô giáo trẻ vẫn yêu từng ngày đứng trên bục giảng. Trong lá thư gửi mẹ, sau những giọt nước mắt là một tình yêu lớn của cô với bản nghèo: “Khi đã quen với công việc nơi đây, con thấy mình yêu núi rừng, yêu cái người Mông thật thà, giản dị, trong sáng của Pa Cheo này biết nhường nào mẹ ạ. Điểm dừng chân đầu đời này là những trải nghiệm quý giá của con mà không phải cô giáo trẻ nào cũng may mắn có được”.

N.Mai – X.Thắng/Báo Gia đình & Xã hội

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC