Ngày 11 Tháng 7, 2019 | 07:00 AM

Ông Nguyễn Doãn Tú, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số: Cần kiện toàn bộ máy tổ chức, đầu tư thỏa đáng cho công tác dân số

GiadinhNet - “Như Nghị quyết 21-NQ/TW đã đánh giá, trong suốt 25 năm qua, công tác DS-KHHGĐ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có được kết quả ấy là nhờ nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, bao gồm nỗ lực của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số từ Trung ương đến cơ sở, trong đó có công đầu thuộc về những cán bộ dân số cấp xã và cộng tác viên dân số ở thôn, xóm, bản làng” - ông Nguyễn Doãn Tú, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số (Bộ Y tế) nhấn mạnh về những thành công trong công tác dân số của Việt Nam nhân kỷ niệm ngày Dân số Thế giới 11/7.


Đội ngũ cán bộ Dân số đã có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ảnh: chí cường

Đội ngũ cán bộ Dân số đã có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ảnh: chí cường

Đẩy mạnh sự phát triển con người, kinh tế và xã hội

Chủ đề của Ngày Dân số Thế giới năm 2019 của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc là “25 năm sau Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD): Thúc đẩy tiến độ nhằm đạt được những nội dung đã cam kết”. Xin ông cho biết, ý nghĩa của chủ đề này đối với công tác dân số ở nước ta?

- Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) được tổ chức năm 1994 đã đánh dấu một điểm khởi đầu mang tính đột phá. Nội dung của Hội nghị đã giúp chúng ta hình dung được một cách toàn diện hơn về cách thức mà thế giới nhìn nhận về dân số, phát triển và quyền sinh sản. Tại Hội nghị quốc tế này, 179 quốc gia, trong đó có Việt Nam đã thông qua một Chương trình hành động với tầm nhìn sâu rộng trong lĩnh vực Dân số và Phát triển. Các quốc gia đều đồng thuận với quan điểm cho rằng chúng ta cần đặt con người vào vị trí trung tâm.

Chủ đề của Ngày Dân số Thế giới năm 2019 của Việt Nam là “Việt Nam - 25 năm thực hiện Chương trình hành động Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD Cairo, 1994)”. Qua đó, nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa dân số và phát triển và kêu gọi lồng ghép đầy đủ các vấn đề dân số vào các chiến lược phát triển, vào công tác lập kế hoạch, ra các quyết định và phân bổ nguồn lực ở các cấp, các ngành nhằm đẩy mạnh sự phát triển con người, kinh tế và xã hội.

Sau 25 năm ký nội dung cam kết tại Chương trình hành động ICPD, Việt Nam đã đạt được những thành công nào trong công tác dân số, thưa ông?

- Những thành tựu của công tác dân số trong 25 năm qua là kết quả sự nỗ lực của chúng ta trong cả một chặng đường dài, kể từ khi Việt Nam thực hiện chương trình DS-KHHGĐ (1961). Công tác dân số ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tốc độ gia tăng dân số được khống chế thành công. Số con trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt mức sinh thay thế 2,09 con năm 2006, sớm hơn 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) và tiếp tục được duy trì cho đến nay.

Dân số nước ta năm 2018 khoảng 95 triệu người. Ước tính quy mô dân số đã giảm được khoảng 20 triệu người nhờ có các chính sách DS-KHHGĐ phù hợp trong thời gian qua. Cơ cấu dân số thay đổi tích cực, số lượng và tỷ trọng dân số phụ thuộc giảm, dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh. Nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và dự báo đạt đỉnh vào năm 2020, với dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 70% dân số. Giai đoạn dân số vàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, dự báo sẽ kéo dài khoảng 30 năm, tối đa là 40 năm.

Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tỷ lệ suy dinh dưỡng và tỷ suất tử vong trẻ em đã giảm 2/3; tỷ số tử vong mẹ giảm 3/4 so với năm 1990. Mạng lưới tầm soát, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh đã từng bước được triển khai ở tất cả các tỉnh, thành phố. Đến nay, 25% bà mẹ mang thai và 35% trẻ em sinh ra được tầm soát, chẩn đoán, can thiệp và điều trị sớm một số bệnh, tật. Tầm vóc thể lực của người Việt Nam có bước cải thiện. Từ năm 1993 đến nay, chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam tăng thêm 3cm, đạt 164cm ở nam và 153cm ở nữ. Tuổi thọ trung bình tăng từ 65,5 tuổi năm 1993 lên 73,5 tuổi năm 2018, cao hơn các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Số năm sống trung bình sau khi đạt 60 tuổi của người Việt Nam đã tương đương nhiều nước châu Âu.

Dân số đã có sự phân bố lại hợp lý hơn trên phạm vi cả nước. Đảng, Nhà nước đã có nhiều chương trình, chính sách bố trí ổn định dân cư tại khu vực trọng yếu về an ninh, quốc phòng, các vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Công tác tuyên truyền, giáo dục về công tác dân số có bước đột phá với sự đa dạng, phong phú, chất lượng ngày càng cao, phù hợp với từng nhóm đối tượng và lứa tuổi. Đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên, tuyên truyền viên với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” kiên trì, thường xuyên, liên tục tuyên truyền vận động đến từng cặp vợ chồng, từng gia đình. Phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng trong tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách DS-KHHGĐ. Hàng chục nghìn câu lạc bộ, mô hình truyền thông về DS-KHHGĐ hoạt động hiệu quả ở mọi vùng miền.

Nghị quyết 21-NQ/TW: Kim chỉ nam cho công tác dân số

Nghị quyết số 21-NQ/TW nhấn mạnh việc tiếp tục chuyển hướng chính sách, chiến lược, từ đặt trọng tâm vào thực hiện KHHGĐ nhằm giảm mức sinh, sang Dân số và phát triển. Việc chuyển trọng tâm này sẽ có tác động thế nào đến công tác dân số trong thời gian tới, thưa ông?

- Thành công của chính sách DS-KHHGĐ đã hạn chế được bùng nổ dân số, hình thành cơ cấu dân số “vàng”; chất lượng dân số được nâng lên… và qua đó tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường của nước ta. Tuy nhiên, thách thức mới đã nảy sinh: Mức sinh rất khác biệt giữa các vùng, các tỉnh, thành phố; mất cân bằng giới tính ở trẻ em đã ở mức nghiêm trọng; di dân diễn ra mạnh mẽ và Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số.

Trước những thách thức và tác động to lớn của những vấn đề trên đến sự phát triển bền vững của đất nước, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới. Nghị quyết nêu 5 quan điểm làm nền tảng cho công tác dân số hiện nay, đặc biệt là chỉ rõ phương hướng: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”.

Nghị quyết đã cụ thể hóa việc chuyển “trọng tâm” này thông qua việc đề ra 6 nhóm mục tiêu, bao gồm 23 chỉ tiêu nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức do tình hình dân số mang lại. Đây là chủ trương lớn của Đảng đối với công tác dân số nước ta, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nhằm giải quyết toàn diện các vấn dân số của đất nước cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số gắn với các yếu tố an ninh, quốc phòng, để đảm bảo phát triển nhanh và bền vững đất nước. Tinh thần và nội dung của Nghị quyết là kim chỉ nam cho công tác dân số ở nước ta từ nay về sau.

Công tác dân số trong tình hình mới đang nảy sinh nhiều khó khăn, thách thức. Xin ông cho biết những khó khăn thách thức đó đang tác động như thế nào đến ngành Dân số?

- Những khó khăn, thách thức cũng là hạn chế của công tác dân số trong tình hình mới đã được chỉ rõ trong Nghị quyết 21-NQ/TW. Đó là: Một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp, tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình; lãnh đạo, chỉ đạo chưa quyết liệt, chưa hiệu quả. Một số cơ chế, chính sách về dân số chậm đổi mới. Các nội dung về dân số trong phát triển kinh tế - xã hội còn chưa được chú trọng đúng mức ở địa phương.

Tổ chức bộ máy thiếu ổn định, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác dân số ở cấp cơ sở còn thấp. Trong tình hình mới, với nhiều đòi hỏi cao hơn để thực hiện các mục tiêu đề ra, đội ngũ cán bộ làm công tác dân số lại đang bị tinh giản hoặc phải kiêm nhiệm các nhiệm vụ y tế sẽ làm cho việc triển khai công tác dân số ngày càng khó khăn hơn.

Nguồn lực đầu tư cho DS-KHHGĐ còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu. Từ nhiều năm nay, ngân sách từ Trung ương cấp cho công tác Dân số ngày càng hạn hẹp, trong khi nguồn viện trợ từ các dự án nước ngoài hiện đã cắt giảm tối đa… Nhiều hoạt động bị đình trệ và không được triển khai. Tại địa phương, ngân sách sở tại cấp cho ngành Dân số có sự chênh lệch giữa các tỉnh, các vùng. Thậm chí có tỉnh không hỗ trợ kinh phí cho công tác đặc biệt quan trọng này. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành Dân số ở địa phương ngày càng thiếu thốn, xuống cấp…

Những khó khăn trên đang “hiện thực hoá” thực trạng mà Nghị quyết 21 đã chỉ rõ; đồng thời làm tăng thêm lo lắng. Tìm phương án để triển khai thành công Nghị quyết 21-NQ/TW khi còn quá nhiều khó khăn nêu trên.

Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển

Để duy trì những kết quả công tác dân số đạt được trong thời gian qua và thực hiện thành công Nghị quyết 21-NQ/TW, theo ông chúng ta cần phải làm gì?

- Công tác dân số là công tác vừa có tính cấp bách vừa là chiến lược, lâu dài. Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển. Vấn đề dân số không phải là vấn đề mà ta có thể nhìn thấy được ngay như các vấn đề điều trị bệnh trong y tế, vấn đề môi trường... Giải quyết vấn đề trong dân số không thể một sớm một chiều có thể giải quyết được, đó là vấn đề của 10 năm, 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm sau.

Nghị quyết 21-NQ/TW nhấn mạnh tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ DS-KHHGĐ sang Dân số và Phát triển. Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ rằng, chuyển trọng tâm công tác dân số từ KHHGĐ sang Dân số và Phát triển không có nghĩa là xem nhẹ công tác KHHGĐ mà đây vẫn là nội dung hết sức quan trọng. Bởi quy mô phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của nước ta vẫn còn rất cao, nhu cầu về cung cấp các dịch vụ về KHHGĐ vẫn rất lớn mà hiện nay chúng ta vẫn chưa đáp ứng được. Do đó, trong thời gian tới, bên cạnh việc phát triển toàn diện, ngành Dân số vẫn song song tập trung đẩy mạnh tư vấn và cung ứng dịch vụ DS/SKSS/KHHGĐ, đặc biệt là cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

Trước những vấn đề mới, thách thức mới, công tác truyền thông vận động xã hội có một vai trò rất lớn. Công tác dân số từ trước đến nay và sau này vẫn là cuộc vận động xã hội rộng lớn, nếu không có sự tham gia của cả hệ thống chính trị thì không thể thành công. Thời gian tới, ngành Dân số sẽ tập trung truyền thông vào các vấn đề: Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; Tận dụng cơ cấu “dân số vàng”; Thích ứng với già hóa dân số; Điều chỉnh phân bổ dân số hợp lý; Nâng cao chất lượng dân số góp phần phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Để triển khai thành công các mục tiêu đã đề ra, rất cần các cấp các ngành và toàn xã hội cùng ngành Dân số quán triệt được chủ trương mà Nghị quyết 21-NQ/TW đã nhấn mạnh: Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số. Theo đó, các nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện Nghị quyết đó là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền; Đổi mới nội dung tuyên truyền, vận động; hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ; bảo đảm nguồn lực; kiện toàn tổ chức bộ máy... Từ đó, giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ, chất lượng dân số.

Trân trọng cảm ơn ông!

Ông Nguyễn Doãn Tú - Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số.
Ông Nguyễn Doãn Tú - Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số.

Theo ông Nguyễn Doãn Tú - Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số, trong thời gian tới công tác dân số sẽ tập trung vào những nội dung quan trọng sau đây:

1. Duy trì mức sinh thay thế: Thành tựu đạt được và duy trì mức sinh thay thế tính trên phạm vi cả nước trong nhiều năm nay là rất to lớn. Tuy nhiên, thách thức hiện nay là chênh lệch mức sinh giữa các khu vực, các vùng khá lớn. Trong khi mức sinh ở khu vực thành thị, miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long giảm sâu dưới mức “2 con” thì mức sinh ở khu vực Tây Nguyên, miền núi và Trung du phía Bắc, Bắc Trung bộ vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra, có tỉnh bình quân mỗi cặp vợ chồng vẫn sinh trên 3 con.

Rút ngắn khác biệt về mức sinh, tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách phát triển và chất lượng cuộc sống của nhân dân giữa các khu vực này; chúng ta chủ trương cuộc vận động: “Tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp”. Vì vậy, xây dựng các giải pháp phù hợp với từng vùng, từng tỉnh sao cho vừa đảm bảo duy trì mức sinh thay thế, vừa tiến tới đồng đều về mức sinh trên phạm vi cả nước là thách thức và yêu cầu của công tác dân số hiện nay.

2. Đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên: Ở nước ta, mất cân bằng giới tính khi sinh được ghi nhận vào năm 2006, khi trong số trẻ em sinh ra trong năm, cứ 100 cháu gái thì tương ứng có tới 110 cháu trai. Sự mất cân bằng này đang tăng lên và đã ở mức nghiêm trọng. Hiện nay, tỉ số này đã ở mức 115,1/100. Nếu xu hướng này tiếp tục diễn ra, đến giữa thế kỷ 21, dân số Việt Nam trong độ tuổi trưởng thành, dự báo nam giới sẽ nhiều hơn nữ khoảng từ 2,3 triệu đến 4,3 triệu người. Hậu quả là sự khủng hoảng về hôn nhân, phá vỡ cấu trúc gia đình, gia tăng tội phạm mua bán phụ nữ, tệ nạn mại dâm, gây bất ổn xã hội và khó khăn trên thị trường lao động… Xóa bỏ tâm lý, tập quán “thâm căn cố đế” - ưa thích con trai, lạm dụng kỹ thuật và công nghệ hỗ trợ lựa chọn giới tính thai nhi là rất khó khăn, chắc chắn không phải là chuyện “một sớm, một chiều”, đòi hỏi đồng bộ nhiều giải pháp, trước mắt và lâu dài; sự nỗ lực vượt bậc, liên tục và mạnh mẽ của toàn xã hội.

3. Tận dụng hiệu quả cơ cấu “dân số vàng”: Nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và dự kiến đạt đỉnh vào năm 2020, với dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 70% dân số.

Đây là dư lợi lớn của “dân số vàng” về số lượng lao động, mang lại cơ hội cho tăng trưởng và phát triển kinh tế và nhiều vận hội khác cho nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Để tận dụng cơ hội cơ hội có một không hai này, chúng ta phải đảm bảo: Thứ nhất, những người trong “độ tuổi hoạt động kinh tế” có khả năng làm việc. Rõ ràng, nếu trong độ tuổi này nhưng ốm đau, bệnh tật, không có khả năng lao động thì cũng không tác động tích cực cho phát triển, thậm chí ngược lại; Thứ hai, những người “có khả năng làm việc” có việc làm. Những người “có khả năng làm việc” song thất nghiệp hoặc có việc làm không đầy đủ sẽ tác động tiêu cực đến phát triển; Thứ ba, “những người có việc làm” được làm việc với năng suất, thu nhập cao. Nếu có việc làm nhưng năng suất, thu nhập thấp, đất nước cũng không tránh được “bẫy thu nhập trung bình”, mức sống nhân dân cũng khó cải thiện.

Mỏ vàng không khai thác thì còn, cơ cấu “dân số vàng” không khai thác thì sẽ mất vào khoảng năm 2040. Vì vậy, cần khẩn trương tận dụng cơ hội quý hiếm này để phát triển nhanh và bền vững đất nước.

4. Thích ứng với già hóa dân số: Năm 2011, dân số 60 tuổi trở lên của nước ta chiếm khoảng 10%, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hoá dân số. Theo dự báo, Việt Nam sẽ có “dân số già” khi tỉ lệ này tăng lên tới 20% vào năm 2035 với khoảng 21 triệu người cao tuổi.

Già hóa dân số là biểu hiện của thành tựu phát triển kinh tế, xã hội kết quả là tăng nhanh tuổi thọ bình quân và thành tựu giảm sinh, hiệu quả của chương trình kế hoạch hóa gia đình. Tuy nhiên, là một nước đang phát triển, thế hệ người cao tuổi hiện nay trải qua nhiều năm chiến tranh và nghèo khó nên già hóa dân số cũng đặt ra nhiều khó khăn thách thức như: An sinh xã hội, thu nhập, chăm sóc sức khỏe, việc làm cho người cao tuổi, xây dựng môi trường xã hội thân thiện với người cao tuổi...

5. Phân bổ dân số hợp lý và quản lý dân cư: Công nghiệp hóa và kinh tế thị trường đang thúc đẩy di cư diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Di dân góp phần thay đổi cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, nâng cao năng suất lao động - yêu cầu cao nhất của Việt Nam trong quá trình phát triển.

Tuy nhiên, di dân cũng đẩy nhanh quá trình tập trung dân số với mật độ rất cao. Nhiều quận ở Thủ đô Hà Nội và TPHCM, mật độ dân số lên tới trên 40.000 người/1 km2. Điều này dẫn tới quá tải cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội gây tắc ách giao thông, quá tải trường học, bệnh viện, nhiễm môi trường... Ngược lại, những địa phương xuất cư mạnh cũng có những thách thức về chăm sóc người già, trẻ em và cả những thách thức về sử dụng không hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật, xã hội đã có.

Rõ ràng, tạo điều kiện thông thoáng cho dòng di cư này diễn ra trôi chảy đồng thời định hướng, điều hòa để phân bố dân số hợp lý trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng vừa là yêu cầu, vừa là thách thức hiện nay. Bên cạnh đó, những biến đổi dân số diễn ra mạnh mẽ, nhanh chóng nên cần xây dựng cần hệ thống thông tin quản lý dân cư phù hợp, linh hoạt, cập nhật và chính xác.

6. Nâng cao chất lượng dân số: Nhờ những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội chất lượng dân số của nước ta không ngừng được nâng lên. Chỉ số phát triển con người (HDI) - một trong những chỉ báo về chất lượng dân số của nước ta đã tăng từ 0,486 năm 1992 đã tăng lên 0,683 vào năm 2016. Tuy nhiên, so với thế giới, thứ hạng vẫn còn thấp. Năm 1992, HDI của Việt Nam xếp thứ 121 trong 174 nước so sánh và năm 2015 vẫn xếp thứ 115 trong số 188 nước so sánh. Chưa bao giờ Việt Nam lọt vào danh sách 100 nước phát triển nhất, chưa rút ngắn được khoảng cách so với các nước trên thế giới. Điều này cho thấy những thách thức lớn lao trong việc đạt được mục tiêu “nâng cao chất lượng dân số”.

Nhiều năm nay, Tổng cục Dân số thực hiện các dự án nâng cao chất lượng dân số ngay trong giai đoạn đầu đời, như: Tư vấn tiền hôn nhân; sàng lọc trước sinh và sơ sinh đã thu được những kết quả tốt. Các mô hình này cần nhân rộng trong thời gian tới chứ không chỉ ở khuôn khổ các dự án như hiện nay.

Hà Thư (thực hiện)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC