Ngày 6 Tháng 1, 2014 | 10:34 AM

Nửa thế kỷ cuộc cách mạng trong lĩnh vực dân số

Nửa thế kỷ cuộc cách mạng trong lĩnh vực dân số

GiadinhNet - Những năm 60 thế kỷ trước, mức sinh ở nước ta vẫn còn rất cao, bình quân mỗi người phụ nữ có khoảng 7 con.

Nửa thế kỷ cuộc cách mạng trong lĩnh vực dân số 1

Công tác dân số với nhiều thành công đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Ảnh: D.Ngọc.

Trẻ em chiếm đến hơn 40% dân số cả nước. Dân số tăng nhanh, chỉ sau 22 năm (1955-1977) đã gấp đôi, từ 25 triệu lên hơn 50 triệu người. Do sớm nhận thức được tầm quan trọng của dân số đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, từ năm đầu của thập kỷ 60 đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng, ban hành và thực hiện nhiều chính sách dân số có kết quả, nhưng nổi bật nhất, tập trung nhất vẫn là chính sách giảm sinh.

Kiên trì, đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ

Mở đầu loạt chính sách theo hướng này là Quyết định 216/CP của Hội đồng Chính phủ về việc sinh đẻ có hướng dẫn, ban hành ngày 26 tháng 12 năm 1961, với mục đích: “Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo”. Ngay trong thời kỳ chiến tranh lan rộng ra cả nước, Chính phủ vẫn tiếp tục chỉ đạo “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch” thông qua Quyết định 94- CP, ngày 13 tháng 5 năm 1970 của Hội đồng Chính phủ. Tuy nhiên, chiến tranh đã hạn chế kết quả cuộc vận động này.

Sau khi hòa bình lập lại, nước nhà thống nhất, công tác DS - KHHGĐ lại được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Ngày 19 tháng 10 năm 1978, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 265/CP về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong cả nước. Chỉ thị nêu rõ: Đây là cuộc đấu tranh cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. Thập niên 80 và thập niên 90, kế hoạch hóa gia đình luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Nghị quyết các Đại hội Đảng, Hiến pháp 1992 và 2013 đều soi chiếu các vấn đề DS-KHHGĐ. Đặc biệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về chính sách DS-KHHGĐ năm 1993, Pháp lệnh Dân số 2003, các Chiến lược Dân số của Chính phủ từ 1993 đến nay đã tạo nên một hệ thống đồng bộ, thống nhất và mạnh mẽ nhằm thay đổi tận gốc tập tính sinh sản của xã hội nông nghiệp thấm đẫm tư tưởng Nho giáo ở nước ta, góp phần quan trọng phát triển đất nước, mang lại hạnh phúc cho mỗi gia đình và mỗi người dân Việt Nam.

Mô hình “mỗi gia đình sinh đủ 2 con” đã trở nên phổ biến, được người dân đồng tình ủng hộ. Kết quả điều tra mức sống dân cư nhiều năm qua đều khẳng định: Quy mô gia đình càng nhỏ thì thu nhập và tiêu dùng bình quân một người/một tháng càng cao. Điều này đã nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình Việt. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm nhanh, giáo dục và đào tạo ngày càng phát triển, bình đẳng nam nữ trong giáo dục đã được thực hiện thúc đẩy bình đẳng giới ngày càng tiến bộ.

Dưới tác động của những tiến bộ kinh tế -xã hội sâu sắc, nhất là từ khi Đổi mới đến nay và sau nửa thế kỷ kiên trì, đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình, lĩnh vực sinh sản ở nước ta đã có sự thay đổi căn bản. Số con trung bình của một bà mẹ tính đến hết tuổi sinh đẻ, giảm còn 2,11 con (mức sinh thay thế) vào năm 2005, và xu hướng giảm sinh vẫn được duy trì. Như vậy, ngày nay phụ nữ Việt Nam chỉ sinh số con chưa bằng 1/3 cách đây nửa thế kỷ! Việc sinh đẻ đã chuyển từ hành vi mang tính tự nhiên, bản năng sang hành vi có kế hoạch, văn minh; Từ bị động sang chủ động; Từ chú trọng số lượng sang chú trọng chất lượng; Từ sinh đẻ ít trách nhiệm sang sinh đẻ có trách nhiệm đầy đủ hơn. Đây thực sự là một trong những thay đổi xã hội sâu sắc nhất ở Việt Nam trong nửa thế kỷ qua cũng là thành công của hơn 50 năm theo đuổi chính sách giảm sinh. Kết quả này cũng cho thấy, sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi đã kết tinh hàng ngàn năm, không phải là chuyện của ngày một, ngày hai.

Cuộc cách mạng dân số vẫn còn tiếp diễn

Trên bình diện vĩ mô, sự gia tăng dân số được kiềm chế, dân số dần ổn định. Trước đây, dân số tăng nhanh, có tính “bùng nổ”, với tỷ lệ tăng trên 3%/năm.  Hiện nay, dân số tăng không đáng kể, chỉ dưới 1%! Do vậy, đã hạn chế được quy mô dân số.

Một so sánh thực tế để thấy rõ điều này: Năm 1990, Việt Nam có 69 triệu dân còn Ethiopia có 48 triệu thì đến năm 2013 Việt Nam có 90 triệu dân, còn Ethiopia có tới 94 triệu! Nếu dân số Việt Nam tăng như Ethiopia, thì năm 2013 đã có tới 135 triệu người! Thật khó hình dung tác động của số dân khổng lồ này đối với kinh tế, xã hội và môi trường. Như vậy, so với Ethiopia, Việt Nam đã hạn chế được 45 triệu dân tăng thêm.

Do kinh tế, xã hội phát triển, mức sinh giảm thấp, bức tranh dân số Việt Nam đã có nhiều điểm sáng. Tuy nhiên, thành tựu lớn cũng làm nảy sinh những thách thức mới, gay gắt như: Mức sinh rất khác biệt giữa các vùng; Vấn đề tiếp thu các thành tựu khoa học, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; Mất cân bằng giới tính ở trẻ em; Di dân và già hóa dân số diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là chất lượng dân số còn thấp.

Giải quyết những vấn đề nói trên, không chỉ ở các góc độ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, luật pháp mà còn là làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của mỗi gia đình, mỗi cộng đồng và toàn xã hội. Nói cách khác, cuộc cách mạng dân số vẫn còn tiếp diễn với những mục tiêu mới, nội dung mới.
 
GS.TS Nguyễn Đình Cử
(Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học KTQD)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC