Ngày 11 Tháng 10, 2017 | 03:02 PM

Nói “Bộ Y tế đề xuất phương án cho các cặp vợ chồng đẻ con thoải mái” là không đúng

GiadinhNet - "Xét trên phương diện pháp luật, chúng ta chưa bao giờ thực hiện “siết” việc sinh con mà chủ yếu là cuộc vận động để người dân thực hiện sinh đẻ có kế hoạch...", lãnh đạo Tổng cục DS-KHHGĐ nhấn mạnh.

Những ngày qua trên các phương tiện thông tin đại chúng có đưa tin về nội dung “nới lỏng mức sinh” hay “Bộ Y tế đề xuất phương án cho các cặp vợ chồng đẻ con thoải mái”… Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết: Không có nội dung nào được đề xuất là “đẻ thoải mái” cả. Do đó, thông tin trên là không đúng và dễ gây hiểu lầm trong công tác DS-KHHGĐ.


Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ

Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ

- Thưa ông, trên các phương tiện truyền thông đang đề cập đến thông tin Bộ Y tế sẽ “nới lỏng mức sinh” và đề xuất phương án cho các cặp vợ chồng “đẻ con thoải mái”. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Tôi xin khẳng định, không có đề xuất nào có cụm từ “đẻ thoải mái”, và cũng không có từ ngữ nào là “nới lỏng mức sinh” cả. Từ trước đến nay, cụm từ “nới lỏng mức sinh” chưa ai đặt ra cả, tôi cũng chưa từng có phát ngôn gì liên quan đến việc này. Hiện nay, các vấn đề về DS-KHHGĐ trong giai đoạn mới đang được Trung ương xem xét, họp bàn, thảo luận để đưa ra phương án tối ưu nhất.

Xét trên phương diện pháp luật, chúng ta chưa bao giờ thực hiện “siết” việc sinh con mà chủ yếu là cuộc vận động để người dân thực hiện sinh đẻ có kế hoạch. Cụ thể là hướng đến mỗi cặp vợ chồng bình quân có 2 con như mục tiêu Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII năm 1993 đã nêu ra nhằm tập trung giải quyết vấn đề gia tăng quy mô dân số quá nhanh.

Và khẩu hiệu vận động được nêu ra là thực hiện mỗi cặp vợ chồng dừng lại ở 2 con để nuôi dạy cho tốt. Đây cũng là khẩu hiệu xuyên suốt trong công tác DS-KHHGĐ hơn 20 năm qua, giúp chúng ta đạt được mức sinh thay thế và mục tiêu này đã đạt được và rất thành công. Hơn 10 năm qua, Việt Nam đã đạt và liên tục duy trì được mức sinh thay thế.

- Xin ông cho biết, mức sinh thay thế đem lại lợi ích gì và tại sao phải duy trì mức sinh thay thế?

Khái niệm mức sinh thay thế là mỗi người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sẽ sinh ra một người con gái để tiếp tục thay mình duy trì chức năng sinh sản, chức năng tái sản xuất dân số, duy trì nòi giống. Theo nhân khẩu học, thì để ổn định quy mô dân số, mức sinh thay thế lý tưởng nhất là 2,1 con/1 phụ nữ tính bình quân toàn xã hội.

Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế và duy trì được hơn 10 năm qua. Đó là điều đáng mừng, tuy nhiên, dù đã đạt mức sinh thay thế thì dân số nước ta vẫn tiếp tục tăng, bởi số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 - 49 tuổi) vẫn tiếp tục tăng và đạt cực đại vào năm 2026 – 2027, sau đó mới giảm xuống.

Do đó, nếu chúng ta không đặt ra mục tiêu mức sinh thay thế thì sẽ khó đạt được mục tiêu mà Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 đã đặt ra. Để duy trì mức sinh thay thế đã đạt được trong bối cảnh mới, công tác DS-KHHGĐ cần có những điều chỉnh linh hoạt.

- Vậy chúng ta làm thế nào để duy trì được mức sinh thay thế, trong khi có sự khác biệt rất lớn về mức sinh giữa các vùng, miền; có nơi mức sinh cao nhưng có nơi mức sinh lại xuống khá thấp. Theo ông, chúng ta cần giải quyết tình trạng này như thế nào?

+ Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu tổng quát là: Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu Chiến lược đề ra, hiện nay công tác DS-KHHGĐ không đặt mục tiêu giảm sinh mà đang có hướng điều chỉnh cho phù hợp hơn với tình hình thực tế chung của đất nước, bởi đang có sự khác biệt lớn về mức sinh tại các vùng, miền, địa phương. Ở các vùng thành thị, những nơi phát triển thì mức sinh lại xuống thấp trong khi đó ở các vùng miền núi, khó khăn thì mức sinh lại cao.

Thời gian qua, ngành Dân số đã đưa ra giải pháp cụ thể: Đối với những địa phương mức sinh vẫn còn cao như các tỉnh miền núi phía Bắc (trên dưới 3 con), Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên cần tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm sinh để đưa mức sinh đạt mức sinh thay thế. Bên cạnh đó, cũng có những xem xét để điều chỉnh lại mức sinh ở một số khu vực có mức sinh thấp thông qua công tác vận động tuyên truyền như Đông Nam Bộ 1,7 con, TPHCM 1,5 con (có thời điểm xuống còn 1,3 con) và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Còn với những tỉnh đã đạt mức sinh thay thế, cần tiếp tục duy trì thành tựu này, tập trung nâng cao chất lượng dân số.

Nếu trước đây, chúng ta thường có khẩu hiệu: “Dừng lại ở hai con để nuôi dạy cho tốt” hay “Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên sinh từ 1 đến 2 con” thì nay, khẩu hiệu là “Mỗi cặp vợ chồng nên sinh 2 con” vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận của gia đình, để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo; góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.

- Một trong những nội dung được đề cập về công tác dân số trong tình hình mới là chuyển trọng tâm công tác dân số từ KHHGĐ sang dân số và phát triển. Xin ông cho biết, vấn đề này được hiểu như thế nào? Việc chuyển trọng tâm này có phải là chúng ta sẽ không chú trọng đến KHHGĐ nữa không, thưa ông?

Có thể nói, trong tình hình mới cả trong nước và quốc tế, đây là bước chuyển quan trọng, từ đặt trọng tâm về quy mô dân số sang giải quyết toàn diện các vấn đề về dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số trong mối quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.

Theo đó, mục tiêu là duy trì mức sinh thay thế; giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh; khai thác tối đa lợi thế của cơ cấu dân số vàng; thích ứng với già hóa dân số; phân bổ di cư hợp lý, quản lý tốt vấn đề di cư; nâng cao chất lượng dân số…

Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ rằng, chuyển trọng tâm công tác dân số từ KHHGĐ sang dân số và phát triển không có nghĩa là xem nhẹ công tác KHHGĐ mà đây vẫn là nội dung hết sức quan trọng, bởi quy mô phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của nước ta vẫn còn rất cao, nhu cầu về cung ứng các dịch vụ về KHHGĐ vẫn rất lớn mà hiện nay chúng ta vẫn chưa đáp ứng được. Thời gian tới, ngành Dân số sẽ tập trung đẩy mạnh tư vấn và cung ứng dịch vụ dân số-sức khỏe sinh sản/KHHGĐ, đặc biệt cho là cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bản chất của công tác DS-KHHGĐ là một “cuộc vận động lớn”, vì vậy ngành Dân số đã tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục để mọi người người dân hiểu việc sinh đẻ có kế hoạch là một việc làm nhân văn, vì sức khỏe của người mẹ và trách nhiệm để có những đứa con khỏe mạnh cả về thể lực, trí tuệ và tinh thần.

(Ông Nguyễn Văn Tân – Phó Tổng cục trưởng Phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ)

Sinh con thứ ba trở lên có bị xử phạt hay không?

Việt Nam không có bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào quy định xử phạt những người dân sinh con thứ ba trở lên. Ở một số địa phương có xây dựng những quy ước, hương ước như những gia đình sinh con thứ ba trở lên không được công nhận là “gia đình văn hóa”, hoặc nơi nào có trường hợp sinh con thứ ba sẽ không được công nhận là “làng văn hóa”, “xóm văn hóa”. Những quy ước, hương ước này là do cộng đồng nơi đó thỏa thuận và cùng nhau xây dựng nên - đây cũng là phong tục, là truyền thống của người Việt Nam từ xưa đến nay.

Bản chất công tác DS-KHHGĐ của chúng ta là một cuộc vận động để người dân tự nguyện, tự giác sinh đẻ có kế hoạch. Hơn 50 năm thực hiện công tác DS-KHHGĐ, người dân đã tự nguyện chỉ sinh từ 1 đến 2 con để nuôi dạy cho tốt, vì hạnh phúc của mỗi gia đình, sự phồn vinh của đất nước. Pháp lệnh Dân số 2003, cũng như Pháp lệnh Dân số sửa đổi điều 10 năm 2008 đều coi công tác DS-KHHGĐ là một cuộc vận động lớn: Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền và nghĩa vụ thực hiện cuộc vận động về dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản/KHHGĐ. Còn đối với các đảng viên và cán bộ, viên chức, những vấn đề liên quan đến việc sinh con thứ ba đã được đề ra trong các quy định của Đảng và quy định ở các cơ quan Nhà nước. Do đó, là đảng viên, phải phục tùng Điều lệ và các văn bản của Đảng; là công chức, viên chức nhà nước phải phục tùng Luật Công chức, Luật viên chức và các văn bản quy định về vấn đề này.

Hà Thư (thực hiện)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC