Ngày 2 Tháng 6, 2019 | 06:47 AM

Nghị quyết 21-NQ/TW mở đường cho những thành công mới

GiadinhNet - Sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa VII) về chính sách DS-KHHGĐ đạt được nhiều kết quả quan trọng, trước những vấn đề và thách thức mới Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về Công tác dân số trong tình hình mới. Ngay sau đó Chính phủ ban hành Nghị quyết số 137/NQ-CP về Chương trình Hành động thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW.

Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên. Ảnh: Chí Cường

Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên. Ảnh: Chí Cường

Tầm nhìn thích ứng với những thách thức mới

Mối quan hệ chặt chẽ giữa Dân số và Phát triển là một trong những căn cứ quan trọng để hoạch định chính sách dân số và chính sách phát triển. Điều này có nghĩa hoạch định chính sách phát triển không thể bỏ qua các yếu tố dân số, ngược lại xây dựng chính sách dân số phải xuất phát từ thực trạng phát triển của cả nước cũng như các địa phương.

Hiện nay chênh lệch mức sinh giữa các khu vực, các vùng khá lớn. Vì vậy, cần “tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp”.

Mất cân bằng giới tính khi sinh được ghi nhận từ năm 2006, khi tỷ số số trẻ em trai trên số trẻ em gái sinh ra trong năm lớn hơn 105. Sự mất cân bằng này đang tăng lên và đã ở mức nghiêm trọng. Năm 2016, tỷ số này lên tới 112,8/100, năm 2018 là 115,1/100. Nếu xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục diễn ra, đến giữa thế kỷ XXI, dân số Việt Nam ở độ tuổi trưởng thành sẽ gặp tình trạng nam nhiều hơn nữ khoảng từ 2,3 triệu đến 4,3 triệu người, dẫn đến hậu quả khủng hoảng về hôn nhân, phá vỡ cấu trúc gia đình, gia tăng tệ nạn mại dâm, tội phạm mua bán phụ nữ, gây bất ổn xã hội và những khó khăn trên thị trường lao động… Mặc dù vậy, mất cân bằng giới tính khi sinh hiện nay mới chỉ tập trung ở một số khu vực, điển hình là vùng Đồng bằng sông Hồng. Theo đó, cần vận động xóa bỏ tâm lý, tập quán muốn sinh con trai “nối dõi tông đường”, đồng thời kiểm soát việc lạm dụng kỹ thuật và công nghệ hỗ trợ lựa chọn giới tính thai nhi.

Một đất nước có cơ cấu dân số “vàng” khi tỷ lệ những người trong độ tuổi từ 15 đến 64 chiếm hơn 66%. Tỷ lệ này ở nước ta đã đạt 66% vào năm 2007 (bước vào thời kỳ cơ cấu dân số “vàng”) và hiện nay, tỷ lệ này xấp xỉ 70%. Cơ cấu dân số “vàng” không được khai thác sẽ mất bị trôi mất (vào khoảng năm 2040). Vì vậy, cần tích cực tận dụng cơ hội này để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Duy trì mức sinh thay thế, nâng cao chất lượng dân số

Năm 2011, với dân số 60 tuổi trở lên chiếm 10%, nước ta chính thức bước vào quá trình “dân số già hoá”. Theo dự báo, nước ta sẽ bước vào thời kỳ “dân số già” vào năm 2035, khi dân số 60 tuổi trở lên đạt 20 % với khoảng 21 triệu người cao tuổi.

Công nghiệp hóa và kinh tế thị trường đang thúc đẩy di cư diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Từ 2004-2009, đã có gần 7 triệu người di cư, tăng 50% so với giai đoạn 1994-1999, góp phần làm tăng tỷ lệ dân đô thị trong khoảng 15 năm trở lại đây và đẩy mạnh xu hướng tập trung dân số vào một số thành phố, vùng lãnh thổ. Điều tiết phân bố dân số hợp lý về phương diện kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, những biến đổi dân số mạnh mẽ, nhanh chóng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức khi xây dựng hệ thống thông tin quản lý dân cư phù hợp, linh hoạt, cập nhật và chính xác.

So với thế giới, chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta vẫn còn thấp, chưa lọt được vào tốp 100 nước có chỉ số HDI cao hơn. Trong khi đó, năng suất và chất lượng lao động là thành tố quan trọng phản ánh chất lượng dân số. Tỷ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao. Tầm vóc, thế lực của người Việt Nam chậm được cải thiện. Tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp so với nhiều nước. Tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn phổ biến ở một số dân tộc ít người. Theo Liên Hợp Quốc, trong 30 năm tới, Việt Nam là một trong 30 quốc gia “có nguy cơ cực lớn” chịu tác động của biến đổi khí hậu. Khoảng 5,3% diện tích đất có thể bị ngập lụt. Tổng cầu về lương thực ngày càng lớn, trong khi đó tổng cung bị đe dọa bởi thu hẹp diện tích canh tác, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, dịch bệnh…

Căn cứ những đặc điểm chính của thực trạng dân số Nghị quyết 21-NQ/TW đặt ra mục tiêu: Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Chủ động, sáng tạo bước tiếp đến những thành công mới

Nghị quyết 21-NQ/TW cũng chỉ ra những nhiệm vụ khả thi và giải pháp thiết thực thực hiện công tác dân số trong tình hình mới.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác dân số trên cơ sở thống nhất nhận thức của cả hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội chuyển trọng tâm chính sách dân số từ tập trung vào kế hoạch hóa gia đình sang giải quyết toàn diện các vấn đề quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục với nội dung chuyển mạnh sang chính sách Dân số và Phát triển. Tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinh cao; duy trì 2 con ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp. Đẩy mạnh truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tạo chuyển biến rõ nét ở những vùng có tỉ số giới tính khi sinh cao. Hình thành kiến thức và kỹ năng về dân số, sức khỏe sinh sản đúng đắn, có hệ thống ở thế hệ trẻ.

Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân số gắn với xây dựng gia đình hạnh phúc. Rà soát, điều chỉnh hoặc bãi bỏ một số quy định về xử lý vi phạm trong công tác dân số; đồng thời đề cao tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chính sách dân số, xây dựng gia đình văn hóa, hạnh phúc. Nâng cao hiệu lực pháp lý trong quản lý và tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người dân, triển khai toàn diện các nội dung của công tác dân số. Kiện toàn hệ thống thanh tra chuyên ngành Dân số, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm. Có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng với các dịch vụ xã hội cơ bản; hỗ trợ thỏa đáng để thu hút, tạo điều kiện cho người dân sinh sống ổn định, lâu dài ở các khu vực khó khăn, trọng yếu về an ninh, quốc phòng. Thực hiện có hiệu quả chính sách bảo vệ và phát triển các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc thiểu số rất ít người.

Tiếp tục củng cố mạng lưới dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Phát triển mạng lưới cung cấp các dịch vụ tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh, sơ sinh, hỗ trợ sinh sản, tư vấn kiểm tra sức khỏe sinh sản trước hôn nhân. Tăng cường kết nối, hợp tác với các cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập. Đổi mới phương thức cung cấp, đưa dịch vụ tới tận người sử dụng; thúc đẩy cung cấp dịch vụ qua mạng. Đẩy mạnh nghiên cứu về Dân số và Phát triển, nhất là các vấn đề mới, trọng tâm về cơ cấu, chất lượng, phân bố dân số và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực. Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, phát triển mạng lưới nghiên cứu về dân số và phát triển.

Bảo đảm đủ nguồn lực đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho công tác dân số, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể thao... nhằm nâng cao chất lượng dân số, đời sống mọi mặt của nhân dân, nhất là đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đồng thời thực hiện quản lý chuyên môn thống nhất. Có chính sách đãi ngộ thoả đáng, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên ở thôn, bản, tổ dân phố... Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, thực hiện chuẩn hóa đội ngũ cán bộ dân số các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang chính sách Dân số và Phát triển. Đưa nội dung Dân số và Phát triển vào chương trình đào tạo, tập huấn, nghiên cứu khoa học.

Chủ động, tích cực hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số. Tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn đa phương, song phương về Dân số và Phát triển. Tranh thủ sự đồng thuận, hỗ trợ tài chính, tri thức, kinh nghiệm và kỹ thuật của các nước, các tổ chức quốc tế. Tập trung nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc về dân số.

Công tác dân số trong tình hình mới gặp khó khăn trong việc sáp nhập Trung tâm Dân số cấp huyện vào Trung tâm Y tế đa chức năng, ít nhiều gây nên tư tưởng dao động đối với không ít cán bộ dân số cấp huyện. Song kế thừa và nối tiếp những thành công thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII), tin tưởng rằng toàn ngành Dân số sẽ nỗ lực cao hơn nữa, chủ động sáng tạo trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW về Công tác dân số trong tình hình mới nhằm đạt được những thành công mới.

Võ Anh Dũng (Nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thông tin và dữ liệu, Tổng cục DS-KHHGĐ)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC