Ngày 26 Tháng 12, 2014 | 02:24 PM

Kỷ niệm ngày Dân số Việt Nam 26/12/2014: Cần tiến hành mạnh hơn nữa việc xã hội hóa công tác DS-KHHGĐ

Kỷ niệm ngày Dân số Việt Nam 26/12/2014: Cần tiến hành mạnh hơn nữa việc xã hội hóa công tác DS-KHHGĐ
Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ.

GiadinhNet - Chia sẻ với phóng viên về công tác DS-KHHGĐ nhân ngày Dân số Việt Nam (26/12/2014), ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết: “Tổng cục đã và đang tích cực làm việc với các đơn vị của Bộ Y tế, các đơn vị có liên quan trong việc xây dựng chương trình mục tiêu nhằm giải quyết được những thách thức của công tác Dân số trong tình hình mới, đảm bảo thực hiện các mục tiêu của Chiến lược DS-SKSS giai đoạn 2011-2020”.

 

 

Triển khai đồng bộ các giải pháp

Công tác DS-KHHGĐ đang phải đối mặt với những thách thức lớn mới phát sinh sau khi đã đạt được mục tiêu giảm sinh trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Ông đánh giá như thế nào về các thách thức đó?

- Sau nửa thế kỷ thực hiện, công tác DS-KHHGĐ của chúng ta đã có chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức cũng như kết quả thực hiện. Việt Nam đã đạt được thành công trong việc giảm sinh, đạt mức sinh thay thế vào năm 2006. Từ đó đến nay, mức sinh của dân số Việt Nam luôn được duy trì ở mức sinh thay thế. Năm 2013, dân số Việt Nam tròn 90 triệu người, chậm hơn so với dự báo 11 năm và hơn 20 năm qua, Việt Nam đã tránh sinh được 20,8 triệu trường hợp. Điều đó đã góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, tăng các cơ hội đầu tư cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, cải thiện chất lượng các dịch vụ xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho tầng lớp nhân dân. Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, tạo ra cơ hội có một không hai trong lịch sử phát triển nhân khẩu học của đất nước ta.

Tuy nhiên, công tác DS-KHHGĐ cũng đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới cả về nội dung và điều kiện thực hiện. Đó là mức sinh còn rất khác biệt giữa các vùng, miền, tỉnh, thành. Trong khi cơ cấu dân số có sự chuyển đổi mau lẹ (Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng nhưng cũng đồng thời ở giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới) thì quá trình thích ứng với sự chuyển đổi này chưa được chuẩn bị tốt. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ngày càng gia tăng, khó kiểm soát. Di cư ngày càng lớn với nhiều vấn đề đặt ra trong việc đảm bảo quyền tự do cư trú và tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Chất lượng dân số của chúng ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt tại những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Nội dung công việc mở rộng hơn nhưng kinh phí lại giảm nhiều, nguồn viện trợ hầu như không còn, thói quen bao cấp vẫn còn nặng nề. Do vậy, việc triển khai thực hiện các mục tiêu về DS-KHHGĐ hết sức khó khăn.

Hiện nay, Tổng cục DS-KHHGĐ đã có những giải pháp nào để hạn chế và khắc phục được các thách thức này?

- Như trên tôi đã nói, những vấn đề này là những vấn đề lớn, rất phức tạp, không chỉ đối với ngành dân số nói riêng mà còn cho sự phát triển kinh tế- xã hội của nước ta nói chung. Bởi dân số là mẫu số chung của tất cả các bài toán phát triển kinh tế - xã hội, là nền tảng và cũng là cái đích hướng tới của sự phát triển bền vững đất nước. Để giải quyết được những vấn đề này cần những nhóm giải pháp đa ngành, đa lĩnh vực, thống nhất trong một tổng thể.

Đối với ngành dân số, chúng ta đã tích cực tham mưu cho lãnh đạo Bộ Y tế triển khai nhiều can thiệp cho từng thách thức. Chúng ta đã triển khai rộng khắp trên toàn quốc các hoạt động tuyên truyền, vận động về các vấn đề này. Bên cạnh đó, chúng ta đã triển khai các mô hình, dự án, đề án can thiệp đối với từng nhóm đối tượng khác nhau, thách thức khác nhau. Về mức sinh cao, chúng ta triển khai Chiến dịch tăng cường tuyên truyền vận động lồng ghép cung cấp dịch vụ tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng hải đảo và ven biển. Về vấn đề già hóa dân số, chúng ta triển khai mô hình phát huy vai trò và chăm sóc người cao tuổi dựa vào gia đình và cộng đồng. Về vấn đề di cư, chúng ta triển khai mô hình cung cấp thông tin, dịch vụ cho người di cư tại các khu công nghiệp. Về vấn đề vị thành niên, chúng ta triển khai mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân.Về vấn đề nâng cao chất lượng dân số, chúng ta triển khai đề án sàng lọc và chẩn đoán trước sinh, sàng lọc và chẩn đoán sơ sinh, đề án can thiệp giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết, đề án sàng lọc bệnh thalasemia.

Cần nhấn mạnh rằng, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cũng như thực tiễn đã chứng minh qua hơn nửa thế kỷ thực hiện thành công công tác DS-KHHGĐ, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp tuyên truyền, giáo dục và vận động làm chuyển biến nhận thức và hành vi, tổ chức cung cấp các dịch vụ DS-KHHGĐ đến tận người dân, đồng thời xây dựng và thực hiện các chính sách khuyến khích phù hợp kiên trì theo định hướng đó, chúng ta sẽ từng bước giải quyết tốt các vấn đề DS-KHHGĐ.

Tăng cường chất lượng truyền thông

Mặc dù đã có nhiều giải pháp để giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, song kết quả vẫn không được như mong đợi. Tỉ số giới tính khi sinh vẫn đang có xu hướng tiếp tục tăng. Ông nghĩ thế nào trước chỉ tiêu đã đề ra: Tỉ số giới tính khi sinh không vượt quá 115/100 vào năm 2015?

- Chiến lược DS&SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đặt ra mục tiêu khống chế tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 115 trẻ trai/100 trẻ gái sinh ra sống vào năm 2020. Đó là mục tiêu mà chúng ta phấn đấu và kỳ vọng đạt được.

Tuy nhiên, tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Như vậy, rất khó đạt được mục tiêu khống chế ở mức 115/100, nếu không thực sự có đột phá trong các giải pháp thực hiện.

Trên thế giới, tỷ số giới tính khi sinh cao tại Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc bắt đầu từ những năm 1980. Trải qua vài thập kỷ nhưng tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại Trung Quốc vẫn đang rất nghiêm trọng và có những năm lên tới 120/100. Quốc gia duy nhất trên thế giới, tính đến thời điểm này, thực hiện can thiệp thành công và đưa tỷ số giới tính khi sinh xuống mức tự nhiên là Hàn Quốc. Tuy nhiên, cũng phải sau gần 2 thập kỷ cùng với sự thay đổi căn bản về chính sách mức sinh dựa trên nền một xã hội phát triển nhanh theo hướng hiện đại.

Hiện nay, mặc dù chúng ta chưa “chặn đứng” xu hướng gia tăng nhưng đã từng bước khống chế tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh. Nếu như giai đoạn 2006 - 2009, trung bình mỗi năm tỷ số này tăng 1,15 điểm phần trăm thì giai đoạn 2010 - 2013, chỉ còn tăng 0,825 điểm phần trăm/năm. Hiện nay, chúng ta vẫn đang kiên trì ba nhóm giải pháp: (1): Tăng cường truyền thông, giáo dục, vận động để người dân thay đổi nhận thức, chuyển đổi hành vi về bình đẳng giới, về hệ lụy của lựa chọn giới tính khi sinh đối với sự phát triển bền vững đất nước và hạnh phúc của thế hệ tương lai ở mỗi gia đình. (2): Thực hiện các chính sách ưu tiên nữ giới, ưu tiên những gia đình sinh con một bề là nữ; (3): Tăng cường thực thi pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi.

Để thực hiện 3 nhóm giải pháp này cần 4 điều kiện tiên quyết: (1): Tăng cường cam kết chính trị, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; (2): Củng cố và kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ nhất là tuyến huyện và tuyến xã. Theo đó, công tác dân số phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, chính quyền địa phương. (3): Tăng cường và ưu tiên nguồn lực cho việc giải quyết các mục tiêu về mất cân bằng giới tính khi sinh. (4): Tăng cường hợp tác, học hỏi kinh nghiệm quốc tế.

Với sự quan tâm của Đảng và chính quyền các cấp, sự tham gia ngày càng tích cực của các ngành, đoàn thể, sự nỗ lực và sáng tạo không ngừng của đội ngũ cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ các cấp, chúng ta có quyền tin tưởng rằng sẽ giải quyết được vấn đề mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh, đạt được mục tiêu đã đề ra.

Chiến lược quốc gia Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020 đề ra một trong số các mục tiêu quan trọng là nâng cao chất lượng dân số. Điều đó đòi hỏi phải có nguồn lực mạnh mẽ mới có thể thực hiện được. Công tác dân số sẽ như thế nào khi nguồn kinh phí duy nhất từ trước tới nay từ Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ không còn trong thời gian tới?

- Sẽ rất khó khăn! Nhiều mục tiêu của Chiến lược DS&SKSS giai đoạn 2011-2020 sẽ bị ảnh hưởng, khó đạt được; ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện các mục tiêu về kinh tế - xã hội.

Từ trước cho đến nay, kinh phí cho chương trình DS-KHHGĐ chủ yếu được đầu tư từ ngân sách Trung ương và được quản lý theo cơ chế Chương trình mục tiêu quốc gia. Trong những năm gần đây, nguồn kinh phí này bị cắt giảm mạnh, đã tác động rất lớn tới việc thực hiện chương trình. Nay nếu không còn nữa, chắc chắn sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới chương trình. Tuy nhiên, Chính phủ đã chỉ đạo, ngoài 2 chương trình mục tiêu quốc gia, tùy ngành, lĩnh vực có thể xây dựng chương trình mục tiêu. Tổng cục DS-KHHGĐ đã và đang tích cực làm việc với các đơn vị của Bộ Y tế, các đơn vị có liên quan trong việc xây dựng chương trình mục tiêu nhằm giải quyết được những thách thức của công tác dân số trong tình hình mới, đảm bảo thực hiện các mục tiêu của Chiến lược DS&SKSS giai đoạn 2011-2020.

Mặt khác, chúng ta đang tiến hành và cần tiến hành mạnh hơn nữa việc xã hội hóa công tác DS-KHHGĐ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chỉ khi nào người dân có đủ điều kiện và tự nguyện chi trả cho các nhu cầu DS-KHHGĐ thì công tác này mới đạt được kết quả bền vững. Khi đó, ngân sách nhà nước chỉ đảm bảo cho các đối tượng nghèo, yếu thế và có điều kiện đặc thù. Hiện nay, chúng ta chưa đạt được mức này và do đó, đây cũng là một mục tiêu mà công tác DS-KHHGĐ cần phải hướng đến.

Trân trọng cảm ơn ông!

Hà Anh (thực hiện)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC