Ngày 12 Tháng 6, 2013 | 06:13 AM

Trung tâm DS-KHHGĐ trực thuộc UBND huyện:

GS.TS Đào Văn Dũng–Vụ trưởng Vụ Các vấn đề XH, Ban Tuyên giáo TƯ: Mô hình đã được chứng minh qua thực tiễn

GS.TS Đào Văn Dũng–Vụ trưởng Vụ Các vấn đề XH, Ban Tuyên giáo TƯ: Mô hình đã được chứng minh qua thực tiễn

GiadinhNet - Mô hình đưa Trung tâm DS-KHHGĐ trực thuộc UBND huyện, cán bộ chuyên trách dân số trực thuộc Trung tâm được biệt phái về làm việc tại xã là một mô hình đúng đắn và hiệu quả.

GS.TS Đào Văn Dũng–Vụ trưởng Vụ Các vấn đề XH, Ban Tuyên giáo TƯ: Mô hình đã được chứng minh qua thực tiễn 1

Để làm tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới, đòi hỏi hệ thống ngành Dân số phải củng cố ngày càng vững mạnh hơn về tổ chức bộ máy và nhân lực. Ảnh: D.N

 
Không chỉ là vấn đề giảm sinh
 
Mô hình đưa Trung tâm DS-KHHGĐ trực thuộc UBND huyện, cán bộ chuyên trách dân số trực thuộc Trung tâm được biệt phái về làm việc tại xã không phải là mô hình chúng ta mới nghĩ ra để thử nghiệm mà nó đã có cả một quá trình triển khai trong những giai đoạn trước. Với mô hình này, công tác DS-KHHGĐ đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể mỗi địa phương coi là nhiệm vụ quan trọng, gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong mọi kỳ họp, cuộc họp bàn về chính sách của địa phương, những người làm công tác DS-KHHGĐ đều có trách nhiệm báo cáo, đề xuất, tham mưu về những tác động của dân số đến mọi mặt phát triển của địa phương: Giáo dục, y tế, môi trường, quản lý nhân khẩu…

Đánh giá về vai trò của công tác dân số, Đảng và Nhà nước luôn coi đây một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của quốc gia. Do đó, công tác DS-KHHGĐ luôn nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước; sự lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho những thành công của công tác này. (GS.TS Đào Văn Dũng)


Thực tiễn đã chứng minh, trong hơn 50 năm qua công tác DS-KHHGĐ đã đạt được những kết quả rất ấn tượng. Một trong những kết quả đó là tổng tỉ suất sinh (hay tổng số con của một bà mẹ trong độ tuổi sinh đẻ) đã giảm một cách rõ rệt. Nếu những năm 1960 - 1970, trung bình một bà mẹ sinh 6 người con thì hiện nay chỉ dưới 2 con. Nhìn vào con số này có thể thấy được giá trị của công tác DS-KHHGĐ.

Nhờ công tác DS-KHHGĐ chúng ta đã có những kết quả hết sức ấn tượng về mặt quy mô dân số, cơ cấu dân số và từng bước nâng cao chất lượng dân số. Việc giảm quy mô dân số đã giúp chúng ta đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội ngày một tốt hơn, góp phần tăng thu nhập bình quân đầu người, cuộc sống người dân được cải thiện rõ rệt, đưa Việt Nam thoát nghèo, trở thành nước có thu nhập trung bình trên thế giới.
Hiện nay, công tác DS-KHHGĐ không thuần túy là vấn đề giảm sinh, kế hoạch hóa gia đình mà tập trung vào vấn đề nâng cao chất lượng dân số, với những đòi hỏi cao hơn nhằm phát triển bền vững đất nước.
 
Việc làm cần thiết

Công tác DS-KHHGĐ đang có những biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu dân số, phân bổ dân cư và những thách thức lớn về chất lượng dân số. Đó là những thách thức được đặt ra nhằm tận dụng cơ hội "dân số vàng", ứng phó với già hóa dân số. Đó là giảm tỉ lệ dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh, giảm tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết, đặc biệt là giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Người Á Đông vẫn còn tư tưởng "trọng nam khinh nữ", ưa thích con trai để nối dõi tông đường. Điều đó góp phần làm gia tăng mất cân bằng tỉ số giới tính khi sinh hiện nay ở nước ta. Đây cũng là thách thức lớn vì chuyển đổi nhận thức của người dân đòi hỏi phải thực hiện lâu dài, bền bỉ.

Một thách thức lớn nữa là trong suốt 50 năm qua, bộ máy tổ chức dân số của ta không ổn định, làm đội ngũ cán bộ làm công tác dân số bị mai một, thuyên chuyển sang ngành khác làm suy giảm sức mạnh của hệ thống làm công tác DS-KHHGĐ... Do công tác DS-KHHGĐ thay đổi nhiều lần về bộ máy tổ chức nên mô hình Trung tâm DS-KHHGĐ trực thuộc UBND huyện, cán bộ chuyên trách dân số trực thuộc Trung tâm được biệt phái về làm việc tại xã cũng bị thay đổi, gián đoạn. Được biết, hiện nay nhiều tỉnh, thành phố có mong muốn và đã bắt đầu quay trở lại mô hình này để hạn chế những bất cập đang gặp phải. Tôi cho rằng đây là việc làm cần thiết.

Để làm tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới, đòi hỏi hệ thống ngành Dân số phải củng cố ngày càng vững mạnh hơn về tổ chức bộ máy và nhân lực. Ngành phải có chính sách thu hút để có nhiều người làm công tác DS-KHHGĐ tốt hơn, có trình độ, nhiệt huyết, có kỹ năng tuyên truyền vận động tốt hơn. Bên cạnh đó, hiện nay, đầu tư viện trợ của quốc tế cho chúng ta ngày càng giảm đi do Việt Nam đã là nước có thu nhập trung bình nên chúng tôi cũng đã đề nghị Nhà nước có đầu tư xứng đáng hơn nữa để công tác DS-KHHGĐ đạt được mục tiêu đề ra - từ số lượng chuyển sang nâng cao chất lượng. Trong đó, điều quan trọng nhất là đầu tư của Nhà nước phải luôn giữ vai trò nòng cốt, chủ đạo và đặc biệt là duy trì Chương trình Mục tiêu Quốc gia về dân số.

Với lĩnh vực DS-KHHGĐ, Ban Tuyên giáo Trung ương đã rất tích cực phối hợp cùng các cơ quan thực hiện công tác DS-KHHGĐ tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị những văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về công tác dân số như Nghị quyết 47-NQ/TW, Kết luận 44-KL/TW... Thường xuyên hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể Ban Tuyên giáo các Tỉnh ủy, Thành ủy các địa phương, Ban Tuyên huấn các bộ, ngành đẩy mạnh công tác dân số được tốt hơn; tăng cường kiểm tra, giám sát để uốn nắn những sai sót, lệch lạc trong quá trình thực hiện công tác DS-KHHGĐ.

Tôi tin rằng, với mô hình đưa Trung tâm DS-KHHGĐ trực thuộc UBND huyện, cán bộ chuyên trách dân số trực thuộc Trung tâm được biệt phái về làm việc tại xã, công tác DS-KHHGĐ sẽ đạt được mục tiêu đề ra, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho. 
 
Hà Thư (ghi)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC