Ngày 16 Tháng 9, 2015 | 09:11 AM

Góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Trong 5 năm qua, thực hiện phong trào thi đua yêu nước do ngành Y tế phát động, Tổng cục DS-KHHGĐ đều cụ thể hóa bằng các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể về mục tiêu, nội dung thi đua, biện pháp tổ chức các phong trào thi đua trong lĩnh vực DS-KHHGĐ.

 

Những năm qua, ngành Dân số đã triển khai nhiều mô hình nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ảnh: D.Ngọc
Những năm qua, ngành Dân số đã triển khai nhiều mô hình nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ảnh: D.Ngọc

 

Cụ thể hóa thành mục tiêu phấn đấu

Hàng năm, Tổng cục DS-KHHGĐ đã xây dựng tiêu chí và hướng dẫn tổ chức chấm điểm thi đua cho Chi cục DS-KHHGĐ các tỉnh, thành phố.

Căn cứ vào chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục, Chi cục các tỉnh, thành phố đã cụ thể hóa thành mục tiêu, nội dung thi đua phù hợp với điều kiện, đặc điểm ở từng địa phương, đề ra những biện pháp tổ chức thực hiện có kết quả tốt. Đồng thời, trong từng thời gian và điều kiện cụ thể, Tổng cục đã phát động các đợt thi đua ngắn ngày, thi đua theo chuyên đề chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, của Bộ Y tế và của ngành như: Kỷ niệm 50 năm công tác DS-KHHGĐ; Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số; Tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia DS-KHHGĐ…).

Từ các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu, điển hình xuất sắc nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước đã động viên, khuyến khích tinh thần cán bộ, công chức, viên chức góp phần hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế giao, cụ thể trên các mặt:     Quy mô dân số, chất lượng dân số, cơ cấu dân số.

Những thành tựu đáng tự hào

Ngày 1/11/2013, dân số Việt Nam đạt 90 triệu người, chậm hơn so với dự báo 11 năm và trong vòng hơn 20 năm qua, nước ta đã tránh sinh được 20,8 triệu trường hợp; Tốc độ tăng dân số được khống chế ở khoảng 1,05%/năm; Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế vào năm 2006, sớm hơn 10 năm so với mục tiêu của Nghị quyết TW 4 (khóa VII); Mức sinh thay thế duy trì liên tục trong 8 năm gần đây.

Hiện số con trung bình trên một người phụ nữ của Việt Nam là 2 con. Mức sinh giảm xuống rõ rệt từ 17,6 ‰ (năm 2010) xuống còn 17,2‰ (năm 2014) đã làm giảm đáng kể số lượng trẻ em sinh ra.

Về cơ cấu dân số, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (15 – 64) đã tăng từ 68,5 % (năm 2010) lên 69% (năm 2014). Việt Nam đang có “cơ cấu dân số vàng” và đây là “cơ hội vàng” cho phát triển kinh tế - xã hội; Tỷ lệ dân số 65 tuổi trở lên của Việt Nam đã tăng từ 6,4% (năm 2010) lên 7,1% (năm 2014). Như vậy, từ năm 2011, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số”; Từ năm 2006 đến nay, tỷ số giới tính khi sinh gia tăng một cách bất thường. Giai đoạn 2006 - 2008 tỷ số giới tính khi sinh tăng 1,15 điểm%/năm. Tuy nhiên, từ năm 2009 - 2011, nhờ những nỗ lực của Chương trình DS-KHHGĐ, tỷ số giới tính khi sinh chỉ tăng 0,7 điểm %/năm, giai đoạn 2012 - 2013 chỉ tăng 0,4 điểm%/năm. Đặc biệt năm 2014 tỷ số này đã giảm 1,6 điểm % và hiện ở mức 112,2/100.

Chất lượng dân số ngày càng được nâng cao. Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 5 tuổi, tỷ số tử vong bà mẹ giảm mạnh trong những năm vừa qua (tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi, dưới năm tuổi đã giảm từ 16 ‰ (năm 2010) xuống chỉ còn 14,94‰ (năm 2014).

Tuổi thọ trung bình tăng từ 73 tuổi năm 2010 lên 73,2 tuổi năm 2014. Trong những năm gần đây, nhiều mô hình can thiệp nhằm nâng cao chất lượng dân số đã được thử nghiệm và từng bước mở rộng, cụ thể như: Đề án sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh; Mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; Mô hình can thiệp giảm tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở một số dân tộc ít người; Mô hình nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người; Mô hình phát huy và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng...

Với những thành tích đáng tự hào, ngành DS-KHHGĐ đang tiếp tục phát huy thành tựu, nỗ lực vượt qua khó khăn, thực hiện phong trào thi đua yêu nước, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế tin tưởng giao cho.

 

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác DS-KHHGĐ cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức: Quy mô dân số tiếp tục tăng, đặc biệt là mức sinh còn biến động khó lường; Giữa các vùng miền, các địa phương có sự khác biệt lớn về mức sinh, một số tỉnh vẫn chưa đạt mức sinh thay thế.

Theo Tổng cục DS-KHHGĐ, mặc dù tốc độ gia tăng dân số đã được kiểm soát, nhưng Liên Hợp Quốc dự báo mức sinh của nước ta vẫn biến động khó lường, có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi, nhưng cũng có thể gây những bất lợi đối với sự phát triển của đất nước. Nếu duy trì mức sinh ở mức thấp hợp lý với tổng tỷ suất sinh khoảng từ 1,9-2,0 con/phụ nữ thì đến năm 2050, quy mô dân số nước ta sẽ ổn định ở mức 115-120 triệu người. Điều này sẽ phát huy được các lợi thế của dân số, đó là quy mô dân số sẽ ổn định ở mức thấp hơn, cơ cấu tuổi của dân số sẽ cân bằng hơn, giảm dần được sự chênh lệch bất lợi về mức sinh giữa các tỉnh, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước trong cả hiện tại và tương lai.

Mai Việt/Báo Gia đình & Xã hội

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC