Ngày 23 Tháng 11, 2016 | 08:42 AM

Chuyển trọng tâm từ DS-KHHGĐ sang dân số và phát triển:

Cuộc cách mạng trong chính sách dân số

  MỚI NHẤT

GiadinhNet - Việt Nam đang đứng trước những biến đổi dữ dội, mạnh mẽ đầy thách thức của cơ cấu dân số. Tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh đòi hỏi cần tận dụng tối đa giai đoạn cơ cấu dân số vàng; già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ cao, tỉ số giới tính khi sinh gia tăng… là những vấn đề nóng được đặt ra tại Hội thảo “Dân số và phát triển, cơ hội, thách thức và giải pháp” do Ban Tuyên giáo Trung ương và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc phối hợp tổ chức sáng ngày 22/11 tại Hà Nội.


Theo các chuyên gia, thời điểm này là lúc Việt Nam cần chuyển hướng chính sách dân số, gắn công tác này với tất cả các hoạt động khác, nhằm tận dụng thành công những biến đổi trong dân số cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh: Dương Ngọc

Theo các chuyên gia, thời điểm này là lúc Việt Nam cần chuyển hướng chính sách dân số, gắn công tác này với tất cả các hoạt động khác, nhằm tận dụng thành công những biến đổi trong dân số cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh: Dương Ngọc

Sự biến đổi mạnh mẽ và “dữ dội”

GS.TS Nguyễn Đình Cử, Viện Dân số và các vấn đề xã hội (ĐH Kinh tế Quốc dân) đã chỉ ra sự biến đổi "đầy dữ dội" về cơ cấu dân số. Nó đã và đang tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta theo cả hai chiều: Tạo ra cơ hội và nảy sinh những thách thức lớn.

Theo GS.TS Nguyễn Đình Cử, chất lượng dân số của ta đã được nâng lên, song chưa vững chắc. Chắc. Chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) vẫn ở bậc trung bình. Năm 2014 chỉ số này là 0,666, đứng thứ 116/188 quốc gia. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã đến mức nghiêm trọng với 112,8 trẻ em trai/100 trẻ em gái. Bên cạnh đó là sự khác biệt lớn về mức sinh giữa các tỉnh, các vùng miền trong cả nước Sự biến đổi này là sự biến đổi cơ cấu dân số theo tuổi: Số người cao tuổi đang tăng lên và số trẻ em đang giảm đi nhanh chóng. Tính từ năm 1979 tới nay, các nhóm tuổi phụ thuộc (từ 0 - 14 tuổi) giảm mạnh. Đặc biệt, nhóm tuổi từ 0 - 4 tuổi giảm tới 1/2 so với thời điểm năm 1979. Ngược lại, tỉ lệ nhóm tuổi từ 65 tuổi trở lên đã tăng tới 1,5 lần. Theo các chuyên gia, tỉ lệ người cao tuổi cuối thời kỳ dự báo năm 2059 là 28,31%, số người trong độ tuổi nghỉ hưu sẽ là 28 triệu. Còn trước mắt, trong 10 năm tới, cả nước phải đảm bảo an sinh xã hội cho 10 triệu người 60 tuổi trở lên về các khoản lương hưu, trợ cấp, chăm sóc sức khỏe...

Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng với lợi thế số người trong độ tuổi lao động (từ 15 - 65) đạt tới 69% dân số. Tuy nhiên, lợi thế này đang gặp phải một số thách thức khi phải giải quyết công ăn việc làm để tận dụng cho được lực lượng vàng này. Bên cạnh đó, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sẽ tiếp tục tăng không ngừng trong giai đoạn 2010 - 2029, đạt cực đại là 25,67 triệu người, đưa đến những thách thức về việc đảm bảo đầy đủ các phương tiện và dịch vụ tránh thai, nhằm đảm bảo duy trì được mức sinh hợp lý.

Cùng đó, sự gia tăng của tỉ số giới tính khi sinh một cách bất thường (112,8 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái, năm 2015) cũng thực sự đáng lo ngại. Nếu sự mất cân bằng này tiếp tục tăng thì đến năm 2035, mức dư thừa nam giới trưởng thành có thể sẽ nhiều hơn số phụ nữ tối thiểu là 10% và thậm chí còn cao hơn, dẫn đến những hệ lụy lớn về mặt an ninh và xã hội.

Các chuyên gia trong lĩnh vực dân số và phát triển cho rằng, sự biến đổi cơ cấu dân số một cách dữ dội và phức tạp trên, nếu biết tận dụng sẽ đem lại những cơ hội tốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc biệt, sự phát triển đó là nền tảng tốt cho thời kỳ hậu dân số "vàng". Tuy nhiên, chúng ta cũng đang đứng trước những nghịch lý của thời kỳ “vàng” này, đòi hỏi những giải pháp hợp lý để giải quyết.

Nghịch lý dân số vàng, năng suất lao động lại thấp

Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn cơ hội dân số vàng với lực lượng lao động trẻ dồi dào. Theo tính toán, thời kỳ dư lợi dân số này sẽ kéo dài khoảng 34 năm. Song thách thức đặt ra là chúng ta cũng đồng thời bước vào giai đoạn già hóa dân số, đòi hỏi cần có những chính sách phù hợp để tận dụng các cơ hội dân số cho tăng trưởng kinh tế.

PGS.TS Giang Thanh Long, Viện trưởng Viện Chính sách công và quản lý (ĐH Kinh tế Quốc dân) chia sẻ: Theo vòng đời, thu nhập từ lao động sẽ tăng nhanh từ 14 - 31 tuổi, sau đó bắt đầu giảm dần tới năm 51 tuổi và tiếp tục giảm nhanh đến 70 tuổi và về 0 khi đến tuổi 90. Số liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2012 cho thấy, dân số trong độ tuổi 23 - 53 tạo ra thặng dư khoảng 632.000 tỉ đồng, trong khi dân số trong độ tuổi 0 - 23 và từ 54 tuổi trở lên tương ứng tạo thâm hụt khoảng 552.000 tỉ đồng. Tổng cộng cho toàn bộ dân số thì mức thâm hụt là khoảng 109.000 tỉ đồng. Để bù đắp cho phần thâm hụt này thì một phần được chia sẻ từ nguồn thặng dư do nhóm dân số tuổi từ 23 - 53 tạo ra và phần khác là từ các khoản chuyển giao khác. Với xu hướng già hóa dân số ngày càng nhanh trong tương lai, thâm hụt của nhóm cao tuổi ngày càng tăng thì thách thức chính sách đảm bảo an sinh xã hội là không nhỏ.

“Nếu giả định, cơ cấu thu nhập từ lao động và tiêu dùng bình quân đầu người theo từng độ tuổi của năm 2012 được giữ nguyên và năng suất lao động không thay đổi thì biến đổi cơ cấu tuổi dân số chỉ có tác động tích cực tới tỷ số hỗ trợ kinh tế tới năm 2018. Nói cách khác, Việt Nam chỉ có “dư lợi dân số” tới năm 2018”, PGS.TS Giang Thanh Long nói. Cũng theo phân tích của ông, cơ hội chuyển thành “dư lợi dân số” chỉ còn vài năm nữa, nếu không thay đổi năng suất lao động thì dư lợi dân số đang dương sẽ trở về 0 vào năm 2018, sau đó sẽ là số âm.

Gắn dân số với phát triển

Hội thảo cũng dành nhiều thời gian để thảo luận về việc duy trì mức sinh hợp lý trên bình diện cả nước và vận dụng phù hợp với từng tỉnh, từng vùng, miền. Theo ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế), đối với một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên mức sinh còn cao, cần giảm và sớm đạt mức sinh thay thế, để từ đó có điều kiện nâng cao chất lượng dân số. Trong khi đó, một số tỉnh, thành phố thuộc vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, mức sinh đã xuống khá thấp. Đặc biệt TPHCM, TFR khoảng 1,3 – 1,4 con, nếu giảm nữa sẽ khó đạt được mức sinh thay thế. Đây là điều rất đáng báo động, nhiều người ở TPHCM chỉ sinh một con, trong khi tỉ lệ các cặp vợ chồng vô sinh đang có xu hướng tăng. Kiểm soát mức sinh trong quy mô dân số hiện nay diễn biến ngày càng phức tạp, nên kế sách cũng cần đa dạng để phù hợp thực tiễn. Những chương trình, kế hoạch cụ thể đã và đang được triển khai một cách tích cực để từng bước khắc phục sự mất cân đối trong cấu trúc dân số, cùng với đó là góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.

Theo các chuyên gia, thời điểm này là lúc Việt Nam cần chuyển hướng chính sách dân số, gắn công tác này với tất cả các hoạt động khác, nhằm tận dụng thành công những biến đổi trong dân số cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo bền vững của đất nước. Từ năm 2011 đến nay, Việt Nam đã chuyển hướng chính sách từ “kiểm soát quy mô dân số” sang “nâng cao chất lượng dân số”. Nội dung chính sách về quy mô dân số chuyển từ “chủ động kiểm soát” sang “chủ động điều chỉnh”; tốc độ tăng dân số từ “cản trở” đã trở thành “động lực” cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách dân số bao gồm cả “cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợi thế của cơ cấu “dân số vàng”, thích ứng với “giai đoạn già hóa dân số” và “kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh”.

Nói về ý nghĩa của việc chuyển hướng chính sách dân số, GS.TS Nguyễn Đình Cử nhấn mạnh: Việc chuyển đổi trọng tâm từ DS-KHHGĐ sang dân số và phát triển là cuộc cách mạng trong chính sách dân số. GS.TS Nguyễn Đình Cử cho rằng, cần đẩy mạnh công tác truyền thông để người dân tiếp nhận, hiểu rõ, ủng hộ và thực hiện hiệu quả chủ trương này. Ông nói: “Hy vọng Việt Nam sớm có Nghị quyết của Trung ương khóa XII về chính sách “Dân số và phát triển” tương tự như Nghị quyết 4 khóa VII về DS-KHHGĐ”.

Cần có kế hoạch tận dụng cơ hội dân số vàng

PGS.TS Giang Thanh Long cho rằng, khả năng cải thiện mức sống của một quốc gia theo thời gian phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng nâng cao sản lượng của quốc gia đó trên mỗi người lao động. Ngoài ra, lao động trẻ càng nhiều là một trong những lợi thế rất có giá trị. Vấn đề là làm sao để nhóm đối tượng này có thể ngày càng có kỹ năng, trình độ chuyên môn cao để có thể hội nhập quốc tế ngày càng sâu, càng rộng. Muốn vậy, học tập suốt đời cho người dân là một chủ trương rất quan trọng. Trong khía cạnh này, theo ông Long, chúng ta phải học những gì thị trường cần để có thể có việc làm, chứ không nên học theo những gì mình có như hiện nay. Và trong bối cảnh này, dịch chuyển lao động đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi năng suất lao động ngành nói riêng, nền kinh tế nói chung. Nhà nước cần thúc đẩy cơ chế lan tỏa thông qua phát triển các ngành hỗ trợ cho các ngành có năng suất cao.

Hà Anh

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC