Ngày 10 Tháng 7, 2018 | 07:00 PM

Cần giải quyết đồng bộ các thách thức của công tác dân số

GiadinhNet - “Những vấn đề thách thức của công tác dân số trong thời kỳ mới rất "nóng", cần có những giải pháp phù hợp mới có được kết quả như mong đợi và phải nhìn vào tương lai xa mới thấy được” - TS Lê Cảnh Nhạc, Phó Tổng cục trưởng thường trực Tổng cục DS-KHHGĐ nhấn mạnh vai trò của công tác dân số nhân Ngày Dân số Thế giới 11/7 năm nay. Theo ông, để chuyển trọng tâm từ “Kế hoạch hóa gia đình” (KHHGĐ) sang Dân số và Phát triển, cần những giải pháp quan trọng để thực hiện thành công, giải quyết đồng bộ các thách thức của công tác dân số.


TS Lê Cảnh Nhạc, Phó Tổng cục trưởng thường trực Tổng cục DS-KHHGĐ phát biểu tại buổi Giao lưu Báo chí truyền thông với những vấn đề thu hút sự quan tâm của xã hội. Ảnh: Q. Thành

TS Lê Cảnh Nhạc, Phó Tổng cục trưởng thường trực Tổng cục DS-KHHGĐ phát biểu tại buổi "Giao lưu Báo chí truyền thông với những vấn đề thu hút sự quan tâm của xã hội". Ảnh: Q. Thành

Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt

Nghị quyết 21-NQ/TW của Trung ương Đảng nêu, công tác dân số trong tình hình mới chuyển trọng tâm từ KHHGĐ sang Dân số và Phát triển. Xin ông cho biết, tại sao lại chuyển trọng tâm? Nội hàm của Dân số và Phát triển là gì?

- Trước đây, do tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, nhằm mục đích cao nhất là giảm sinh nên công tác dân số tập trung vào nội dung chính là KHHGĐ, vận động người dân sinh từ 1 - 2 con nhằm kiểm soát quy mô dân số.

Hiện nay, Việt Nam đã khống chế thành công tốc độ gia tăng dân số. Bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 2,1 con. Nước ta giữ được mức sinh thay thế hơn 10 năm và vấn đề đặt ra là dân số không phải chỉ là đếm số người dân mà là đặt con người vào trung tâm của sự phát triển xã hội. Khẩu hiệu “Mỗi gia đình chỉ sinh từ 1 - 2 con” không còn phù hợp nữa mà phải thay đổi là “Mỗi cặp vợ chồng hãy nên sinh 2 con” bởi một số vùng mức sinh đang suy giảm đáng báo động trong bối cảnh mức sinh không đồng đều giữa các vùng miền của cả nước. Dân số nước ta đang đứng trước nhiều thách thức với bức tranh toàn cảnh còn nhiều nghịch lý. Nghịch lý ở chỗ những vùng kinh tế khó khăn thì mức sinh cao, còn những vùng phát triển, có đời sống cao thì mức sinh lại đang xuống thấp. Ở miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ mức sinh còn cao, trung bình mỗi phụ nữ sinh 2,5 con, thậm chí 3 con. Đặc biệt, ở một số vùng đô thị, kinh tế phát triển, mức sinh đã xuống thấp, có nơi thấp xa so với mức sinh thay thế như miền Đông Nam bộ, một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long bình quân mỗi phụ nữ chỉ sinh 1,6 con, thậm chí tại TP Hồ Chí Minh, mức sinh bình quân là 1,35 con.

Cơ cấu dân số nước ta cũng đang đặt ra nhiều thách thức với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn chưa giảm, tốc độ già hóa dân số cao. Tâm lý của người châu Á là muốn có con trai để nối dõi nên sinh ra hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh. Hiện tượng này ở nước ta xuất hiện sau 20 năm so với các nước khác nhưng tốc độ rất nhanh. Từ 2011, Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa dân số và là một trong top 5 quốc gia già hóa dân số. Tốc độ nhanh nhưng điều kiện tiếp ứng với dân số già của Việt Nam còn rất kém. Đến nay, chúng ta vẫn chưa có giải pháp đồng bộ phát huy lợi thế của thời kỳ “dân số vàng” và thích ứng với già hóa dân số. Chỉ số phát triển con người còn thấp. Suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao. Bên cạnh đó, tuổi thọ bình quân của người dân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp; tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn nhiều ở một số dân tộc ít người; phân bố dân số, quản lý nhập cư, di dân còn nhiều bất cập.

Chính vì vậy, để giải quyết các khó khăn thách thức trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới. Theo đó, Nghị quyết chỉ rõ: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang Dân số và Phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”.

Bước ngoặt quan trọng và cần thiết


Tuyên truyền công tác dân số và SKSS ở Thủ đô.

Tuyên truyền công tác dân số và SKSS ở Thủ đô.

Xin ông cho biết, việc chuyển trọng tâm này có phải là chúng ta sẽ không chú trọng đến KHHGĐ nữa không, thưa ông?

- Thực chất, KHHGĐ là một thành tố trong nội hàm dân số. Dân số phát triển đó là tác động qua lại giữa dân số với môi trường, y tế, giáo dục, xã hội. Và tất cả mọi định hướng phát triển phải dựa trên mẫu số của dân số để xác định.

Có thể nói, trong tình hình mới cả trong nước và quốc tế, đây là bước chuyển quan trọng, từ đặt trọng tâm về quy mô dân số sang giải quyết toàn diện các vấn đề về dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số trong mối quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.

Theo đó, mục tiêu là duy trì mức sinh thay thế; giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh; khai thác tối đa lợi thế của cơ cấu “dân số vàng”; thích ứng với già hóa dân số; phân bổ di cư hợp lý, quản lý tốt vấn đề di cư; nâng cao chất lượng dân số…

Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ rằng, chuyển trọng tâm công tác dân số từ KHHGĐ sang Dân số và Phát triển không có nghĩa là xem nhẹ công tác KHHGĐ mà đây vẫn là nội dung hết sức quan trọng, bởi quy mô phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của nước ta vẫn còn rất cao, nhu cầu về cung ứng các dịch vụ về KHHGĐ vẫn rất lớn mà hiện nay chúng ta vẫn chưa đáp ứng được. Do đó, trong thời gian tới, bên cạnh việc phát triển toàn diện, ngành Dân số vẫn song song tập trung đẩy mạnh tư vấn và cung ứng dịch vụ DS/SKSS/KHHGĐ, đặc biệt là cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

Để giải quyết được những vấn đề cấp bách trên, theo ông cần có những điều kiện và giải pháp gì để giúp công tác đạt được mục tiêu mà Nghị quyết 21-NQ/TW đã đề ra?

- Công tác dân số không phải là vấn đề mà người ta có thể nhìn thấy ngay được như các vấn đề về y tế, giáo dục, môi trường... trong khi Việt Nam là một trong những nước có mật độ dân số cao nhất thế giới, cao gấp 7,5 lần mật độ dân số chuẩn theo khuyến cáo của Tổ chức Lương thực Thế giới. Với tất cả những vấn đề khó khăn, thách thức đã phân tích ở trên, để giải quyết được phải nhìn vào tương lai xa mới thấy được. Công tác dân số không phải là một sớm một chiều có thể giải quyết được những điểm “nóng”, nó là vấn đề của 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm.

Ngay sau khi Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới được ban hành, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 137/NQ-CP để thực hiện Nghị quyết 21 về công tác dân số trong tình hình mới. Trong đó, xác định dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài và là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ DS-KHHGĐ sang Dân số và Phát triển.

Nhiệm vụ giảm sinh đã hoàn thành, giai đoạn tiếp theo của công tác dân số phải triển khai đồng loạt các vấn đề khác. Nghị quyết 21-NQ/TW của Trung ương Đảng cũng đã chỉ ra những vấn đề mới, thách thức mới cần giải quyết, trong đó nêu bật việc chuyển trọng tâm từ KHHGĐ sang Dân số và Phát triển. Chính vì vậy, công tác truyền thông vận động xã hội vẫn có một vai trò rất lớn. Công tác dân số từ trước đến nay và sau này vẫn là cuộc vận động xã hội rộng lớn, nếu không có sự tham gia của cả hệ thống chính trị thì không thể thành công.

Thời gian tới, ngành Dân số sẽ tập trung truyền thông vào các vấn đề: Duy trì vững chắc mức sinh thay thế, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, tận dụng cơ cấu “dân số vàng”, thích ứng với quá trình già hóa dân số, điều chỉnh phân bổ dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số góp phần phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Để triển khai thành công các mục tiêu đã đề ra, Nghị quyết 21-NQ/TW đã nhấn mạnh: Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số. Theo đó, các nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện Nghị quyết đó là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền; đổi mới nội dung tuyên truyền, vận động; hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ; bảo đảm nguồn lực; kiện toàn tổ chức bộ máy... Từ đó, giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ, chất lượng dân số...

Trân trọng cảm ơn ông!

Hà Thư (thực hiện)

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC