Ngày 24 Tháng 9, 2013 | 09:16 AM

Bài phát biểu của Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến tại Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số (2003-2013)

Bài phát biểu của Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến tại Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số (2003-2013)

Kính thưa đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ!

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các vị đại biểu trong nước và quốc tế tham dự Hội nghị lời chào trân trọng và lời kính chúc sức khỏe.

Kính thưa đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, kính thưa các vị đại biểu,

Công tác DS-KHHGĐ luôn được Đảng và Nhà nước xác định là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, là yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Trải qua 50 năm thực hiện công tác DS-KHHGĐ, dân số Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc sinh đẻ, từ việc sinh đẻ mang tính tự nhiên, bản năng sang việc sinh đẻ có tính chủ động, có kế hoạch. Từ việc sinh nhiều con, chất lượng thấp sang việc sinh ít con, chất lượng ngày càng cao. Số con trung bình một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 6,3 con (1960) xuống còn 2,05 (2012). Tuổi thọ bình quân tăng từ 40 tuổi (1960) lên 73 tuổi (2012); tỷ lệ tăng dân số giảm từ 3,5% (1960) xuống chỉ còn 1,06% (2012). Những thành tựu của công tác DS-KHHGĐ góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, góp phần đáng kể vào việc tăng thu nhập bình quân đầu người, cải thiện đời sống nhân dân, giảm tình trạng đói nghèo, tăng cường bình đẳng giới. Đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Thưa các quý vị đại biểu,

Để đạt được kết quả trên, Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, từng bước được điều chỉnh theo hướng bao quát, toàn diện hơn, chú trọng nâng cao chất lượng dân số thích ứng với những biến đổi về cơ cấu dân số. Pháp lệnh Dân số (2003) và Pháp lệnh sửa đổi điều 10 PLDS (2008) là văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực Dân số. PLDS đã góp phần thể chế hóa quan điểm, đường lối, chính sách dân số phù hợp với xu thế cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Kể từ ngày có hiệu lực đến nay, PLDS đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công các mục tiêu hàng năm và dài hạn về Dân số, nâng cao trách nhiệm của công dân trong việc kiểm soát sinh sản, thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước về dân số và pháp luật.

Thưa các quý vị đại biểu, mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận song trong công tác DS-KHHGĐ đã bộc lộ khó khăn, thách thức. Hiện nay, quy mô dân số nước ta đã gần 89 triệu người, là quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới, và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, tốc độ tăng dân số tuy đã giảm nhiều song do quy mô dân số khá lớn, mỗi năm nước ta tăng 1 triệu người, mật độ dân số 267 người/km2, là nước nằm trong nhóm các nước có mật độ cao nhất thế giới. Chất lượng dân số thấp, tốc độ già hóa dân số nhanh, mất cân bằng giới tính khi sinh là vấn đề nóng và tiếp tục tăng cao nếu không được xử lý kiên quyết ngay bây giờ sẽ để lại những hệ lụy rất nặng nề về mặt xã hội, kinh tế thậm chí an ninh chính trị. Đầu tư đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu người gia nhập lực lượng lao động hàng năm cũng là vấn đề lớn  đòi hỏi sự phấn đấu, nỗ lực của các ngành, các cấp và xã hội.

Sau gần 10 năm thực hiện PLDS, đã bộc lộ những hạn chế về công tác dân số có những bất cập cần được khắc phục.

-   Khá nhiều quy định của PLDS còn mang nặng tính nguyên tắc, chung chung dựa trên cơ sở một nhóm yếu tố tác động, thiếu cụ thể hóa từng yếu tố tác động, từng tiêu chuẩn và quy định thực hiện nên khó áp dụng được trong thực tiễn.

-   Thiếu các quy định về quyền, trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội đối với việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy trình của các biện pháp giải quyết mỗi nội dung điều chỉnh cụ thể trong PLDS và các văn bản hướng dẫn đi kèm.

-   Không quy định cụ thể các tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và điều kiện đối với các đối tượng thụ hưởng với các tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ.

-   Chưa có quy định cụ thể đối với đối tượng ưu tiên, mức ưu tiên và chính sách ưu tiên đối với các vùng miền có điều kiện kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người thuộc diện chính sách xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

-   Chưa có quy định về quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài trong việc thực hiện công tác Dân số, chưa các quy định hướng dẫn, quy chế quản lý việc bảo đảm thi hành các quyền và nghĩa vụ công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài … trong việc thực hiện công tác dân số.

-   Chưa có quy định cụ thể về chính sách, biện pháp trợ giúp các đối tượng: nước ngoài kết hôn với người Việt, quy định trách nhiệm các cơ quan tổ chức trong việc cung cấp dịch vụ dân số nhằm kiểm soát sinh sản kiêm soát giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số…

Thưa các quý vị đại biểu,

Để giải quyết các khó khăn, thách thức trên, chúng tôi đề nghị trong thời gian tới, toàn ngành chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác DS-KHHGĐ trên tất cả các mặt quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số, trong đó, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:

-   Toàn bộ hệ thống cán bộ công tác DS-KHHGĐ từ Trung ương đến địa phương cần tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương; tiếp tục giữ vững cam kết quán triệt quan điểm công tác DS-KHHGĐ là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội

-   Tập trung mọi nỗ lực phấn đấu, tạo đà cho việc hoàn thành các mục tiêu giai đoạn 1 của Chiến lược DS-SKSS Việt Nam và chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2011-2015. Tập trung và ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, đẩy mạnh công tác tuyền thông chuyển đổi hành vi kết hợp với cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS/KJHHGĐ thuận lợi cho người dân, nhằm thu hẹp khoảng cách mức sinh giữa các vùng trong cả nước, nhằm duy trì mức sinh thay thế trong cả nước.

-   Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng dân số, chủ động điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số, kiểm soát mức chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh. Đề xuất những giải pháp kéo dài và phát huy, tận dụng lợi thế cơ cấu dân số vàng hiện nay.

-   Phối hợp với các cơ quan liên quan đẩy nhanh tiến độ xây dựng Luật Dân số và các văn bản hướng dẫn trình các cấp có thẩm quyền ban hành nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về DS-KHHGĐ đáp ứng yêu cầu quản lý và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn.

-   Tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống bộ máy cán bộ làm công tác DS – KHHGĐ từ Trung ương đến địa phương đảm bảo đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả nhằm đáp ứng đủ yêu cầu của quốc gia.

Kính thưa đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, thưa các đồng chí,

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt lãnh đạo Bộ Y tế, tôi xin chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, chính quyền các cấp về sự lãnh đạo, chỉ đạo và mong tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, tham gia tích cực của các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ trong công tác DS-KHHGĐ Việt Nam.

Với lý do trên, tôi xin trân trọng khai mạc Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số.

GỬI Ý KIẾN BẠN ĐỌC