Thứ Năm, 15/11/2007 14:10 (GMT+7)

Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam

Việt Nam là nước có dân số đông thứ 2 trong khu vực Đông Nam á và thứ 13 trên thế giới. Chất lượng dân số ở mức thấp, xếp thứ 112/117 nước trên thế giới. Chúng ta đang phấn đấu đến năm 2010, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức trung bình tiên tiến là 0,70%.

Thực trạng dân số Việt Nam
Hiện nay, dân số nước ta đã lên tới hơn 81 triệu người và tốc độ tăng bình quân khoảng 1 triệu người/năm. Thực hiện Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (năm 1994), Việt Nam đã có nhiều thay đổi quan trọng trong chính sách, biện pháp và tổ chức.

Thực hiện việc nâng cao chất lượng dân số, Chương trình tập trung vào những vấn đề chính, như quyền được sinh sản, kế hoạch hoá gia đình (KHHGD), làm mẹ an toàn, tránh thai, sức khoẻ sinh sản (SKSS) vị thành niên, giới tính... Vì vậy, Chương trình Dân số Việt Nam đã có bước phát triển quan trọng, chuyển từ mục tiêu số lượng sang chất lượng, từ nội dung KHHGĐ sang chú trọng tới SKSS toàn diện, chú trọng vấn đề lồng ghép DS,KHHGĐ với các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội...

Năm 2003, Pháp lệnh Dân số được ban hành và cũng là năm Việt Nam bắt đầu đạt mức sinh thay thế. Số con trung bình của 1 phụ nữ là 2,1 con, là mức sinh thấp so với các nước trong khu vực, nhưng tỉ suất tử vong mẹ vẫn ở mức cao, ước tính là 165 - 170 mẹ/100.000 trẻ đẻ sống. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng cũng vẫn còn ở mức cao 15,5% (Hà Nội) và 30,1% (toàn quốc). Tuổi thọ bình quân của cả nước vẫn thấp hơn 70 năm. 

Năm 2004, Việt Nam đã và đang nỗ lực thực hiện đồng bộ 7 dự án quan trọng để tiếp tục thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về DS,KHHGĐ giai đoạn 2001 - 2005, đó là truyền thông giáo dục thay đổi hành vi, tăng cường dịch vụ chăm sóc SKSS, KHHGĐ cho người nghèo, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa; hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành Dân số; nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chất lượng dân số; lồng ghép yếu tố dân số với phát triển gia đình bền vững thông qua hoạt động tín dụng tiết kiệm và phát triển gia đình; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác DS,KHHGĐ...
Tuy nhiên, theo TS. Phạm Bá Nhất, Vụ trưởng Vụ Dân số - Uỷ ban DS,GĐ &TE, nước ta đang đứng trước thách thức lớn, đó là qui mô dân số lớn, tốc độ gia tăng dân số cao, trong khi chất lượng dân số lại quá thấp.

Từ năm 2000 đến nay, mức giảm sinh đã chững lại, thậm chí ở nhiều địa phương còn có nguy cơ gây gia tăng dân số trở lại. Lí do cơ bản là do tư tưởng chủ quan của lãnh đạo ở cơ sở, thêm vào đó là tính tự nguyện của một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa cao. Đặc biệt là ở những gia đình có 2 con gái, họ chưa nhận thức được đầy đủ, đúng đắn về quyền, lợi ích và nghĩa vụ của việc sinh sản và công tác DS,KHHGĐ, nên khi có cơ hội thì dễ nảy sinh việc sinh con thứ 3.

Bên cạnh đó, dường như mức độ hiểu biết của nhân dân về vấn đề bệnh tật của bà mẹ do hậu qủa của những tai biến trong quá trình thai nghén, sinh đẻ cũng còn nhiều hạn chế. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở phụ nữ, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn chưa được chú trọng đúng mức...
Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách và trọng tâm, cũng là mục tiêu trong thời gian tới của công tác DS,KHHGĐ vẫn là tiếp tục giảm sinh và duy trì tính bền vững của kết quả đã đạt được. Việc tuyên truyền, vận động, tư vấn luôn được coi là biện pháp quan trọng, cơ bản trong việc điều chỉnh qui mô dân số hợp lý, đảm bảo giảm mức sinh vững chắc, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Những điều cần lưu ý về Pháp lệnh Dân số

Pháp lệnh Dân số được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 09/01/2003 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2003. Pháp lệnh gồm 7 chương, với 40 điều.

Để điều chỉnh qui mô dân số, điều 9, mục 1, chương 2 quy định: “KHHGĐ là biện pháp chủ yếu để điều chỉnh mức sinh, góp phần bảo đảm cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”. “Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng” (điều 10, mục 1, chương 2).

Tuy nhiên, Pháp lệnh cũng qui định, mỗi cặp vợ chồng và cá nhân phải có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp tránh thai, thực hiện KHHGĐ, xây dựng qui mô gia đình ít con, bảo vệ sức khoẻ và các biện pháp phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản... Bên cạnh đó, để bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý, Nhà nước có chính sách và biện pháp cần thiết ngăn chặn việc lựa chọn giới tính thai nhi, bảo đảm cân bằng giới tính theo qui luật sinh sản tự nhiên; giúp đỡ hỗ trợ về vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; đồng thời Nhà nước cũng thực hiện việc phân bố dân cư hợp lý giữa các khu vực, vùng địa lý, kinh tế và các đơn vị hành chính bằng các chương trình, dự án. Pháp lệnh cũng khẳng định: Nâng cao chất lượng dân số là chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước.

Nhà nước thực hiện chính sách nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam lên mức tiên tiến thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Điều 20, chương III).

Nhà nước cũng tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số, thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội; đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công nghệ hỗ trợ sinh sản, nhằm giúp đỡ người vô sinh, người triệt sản và những người có nhu cầu theo qui định của pháp luật; khuyến khích và tạo điều kiện cho nam nữ kiểm tra sức khỏe trước khi đăng ký kết hôn, xét nghiệm gen đối với người có nguy cơ bị khuyết tật về gen, nhiễm độc chất hoá học và giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần đối với các trường hợp này (điều 23, chương III).

Nhà nước nghiêm cấm các hành vi cản trở, cưỡng bức việc thực hiện KHHGĐ; lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, cung cấp phương tiện tránh thai giả, không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, quá hạn sử dụng hoặc không được phép lưu hành; cư trú và di trú trái pháp luật; tuyên truyền, phổ biến hoặc đưa ra những thông tin có nội dung trái với chính sách dân số, truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, có ảnh hưởng xấu đến công tác dân số và đời sống; nhân bản vô tính người (điều 7, chương I).


Pháp lệnh cũng qui định chi tiết trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức trong công tác DS, KHHGĐ. Như vậy, thực hiện tốt công tác dân số chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực dân số, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội, chất lượng cuộc sống của cá nhân, gia đình và toàn xã hội; bảo đảm việc chủ động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi cá nhân, gia đình trong việc kiểm soát sinh sản, chăm sóc SKSS, lựa chọn nơi cư trú và lựa chọn các biện pháp nâng cao chất lượng dân số; kết hợp giữa quyền và lợi ích của cá nhân, gia đình với lợi ích của cộng đồng và toàn xã hội, thực hiện qui mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.

Diệu Thúy
www.irv.moi.gov.vn

2008 © Bản quyền thuộc về GiaDinh.net.vn - Báo điện tử của Báo Gia đình và Xã hội - Bộ Y tế – Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình
Giấy phép Báo điện tử số: 79/GP-TTĐT ngày 20/4/2011 của Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Bộ TTVTT
Điện thoại: 04.22120681 | Fax: 04.8463556
Điện thoại báo in Gia đình và Xã hội: 043.8463567 – Fax: 043.8463556
Đường dây nóng: Hà Nội: 043.8235807 máy lẻ 24 - 0904852222
Đường dây nóng: TP HCM: 082.2405776
Toà soạn: 138A Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội
Email: toasoan@giadinh.net.vn
® Ghi rõ nguồn "Giadinh.net.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này Vccorp.vn - Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam

Liên hệ quảng cáo: AdMicro
Hà Nội: +84 4 3974 8899 Ext: 3739
TP.HCM: +84 8 7307 7979 Ext: 82149
Email: giadinh@admicro.vn
Mobile: 0909 707 866 (Ms. Hằng)
Hỗ trợ & CSKH: 01268 269 779 (Ms. Nguyễn Thị Thơm)
Add: Tầng 5 & tầng 11, số 25-27 Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, Hà Nội
én bạc | gia đình | giải trí | tài chính