|
Theo số liệu từ 2006, thì tỉ lệ nhiễm HIV rất cao ở nhóm người nghiện chích ma tuý trung bình là 23,16%, ở nhóm gái mại dâm là 3,9%. Tuy nhiên, ở một số tỉnh, thành phố, tỉ lệ nhiễm HIV do tiêm chích lên tới 54,5% như Quảng Ninh, 47,61% ở TP HCM, 46,25% ở Hải Phòng. Ở Cần Thơ có tới 33,86% gái mại dâm bị nhiễm HIV, Hà Nội là 14,25%. Nhiễm HIV/AIDS chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi từ 20 –39 (chiếm 78,9%).
Ở Việt Nam, tính đến 30/8/2007, trên toàn quốc luỹ tích số người nhiễm HIV được phát hiện đã lên tới 128.367 trường hợp trong đó có gần 25.219 trường hợp đã tiến triển thành AIDS và 14.042 người đã chết do AIDS.
(Nguồn Bộ Y tế)
|
Cũng theo TS Huấn, chỉ có hoạt động can thiệp mới có thể ngăn chặn được lây nhiễm HIV. Nghiên cứu tại TP HCM cho thấy, nếu đầu tư cho chương trình can thiệp dự phòng 18,5 triệu USD cho 5 năm 2006 –2010 thì tiết kiệm được 54 triệu USD cho giai đoạn 2011 – 2020 nhưng điều quan trọng sẽ dự phòng được cho hơn 20.500 trường hợp nhiễm HIV mới.
Bên cạnh đó, việc can thiệp trực tiếp bằng chương trình phân phát và sử dụng bơm kim tiêm đã làm giảm đáng kể tỉ lệ nhiễm HIV. Báo cáo tại Lạng Sơn cho thấy sau 3 năm can thiệp, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý đã giảm từ 46% xuống còn 27% tại các địa bàn can thiệp. Can thiệp bằng BCS và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho nhóm gái mại dâm đã làm giảm mắc bệnh lậu từ 24,8% xuống còn 2% tại Quảng Trị. Tại Lai Châu, tỷ lệ mắc bệnh lậu trước can thiệp là 20,2% xuống còn 5,1%.
Độ bao phủ chương trình can thiệp còn thấp
Đến cuối tháng 6/2007, 42/60 tỉnh/thành phố có báo cáo đã triển khai chương trình phân phát và trao đổi bơm kim tiêm. Tuy nhiên, độ bao phủ của chương trình còn ở diện hẹp với hơn 33% quận, huyện, 19% xã, phường triển khai chương trình bơm kim tiêm. Số lượng bơm kim tiêm được phát ra mới chỉ đáp ứng được 10 – 15% nhu cầu của các đối tượng tiếp cận được.
“Chương trình khuyến khích sử dụng BCS được triển khai tại 58 tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, hầu hết nguồn BCS được cung ứng từ các dự án quốc tế. Hiện vẫn chưa có cơ quan chịu trách nhiệm quản lý chất lượng BCS, cũng như chưa có chính sách bảo đảm cung ứng BCS khi các dự án viện trợ kết thúc” - TS Huấn cho biết như vậy.
Theo đánh giá của Bộ Y tế, hạn chế lớn nhất của chương trình hiện nay là số tỉnh, thành phố triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại còn thấp hoặc đã triển khai nhưng mới chỉ dừng ở mức tuyên truyền chứ chưa thực hiện hoạt động trao đổi bơm kim tiêm và phân phát BCS. Bên cạnh đó, có những tỉnh có tỉ lệ nhiễm HIV cao như Quảng Ninh nhưng độ bao phủ của chương trình chỉ khoảng 10%.
Bộ trưởng Bộ Y tế, TS Nguyễn Quốc Triệu đánh giá, trong những năm qua, với sự nỗ lực của hệ thống phòng chống HIV/AIDS, công tác can thiệp giảm tác hại cho nhóm nguy cơ cao đã được thực hiện tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm có số người nhiễm HIV/AIDS cao với những mô hình can thiệp khác nhau, đã thu được thành công nhất định, góp phần khống chế lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng.
Tuy nhiên, chương trình can thiệp giảm tác hại được triển khai mới là thí điểm, độ bao phủ còn hạn chế. Nhiều tỉnh, thành phố chưa triển khai được chương trình trao đổi bơm kim tiêm. Các mô hình can thiệp chưa có tính thống nhất, hiệu quả dự phòng chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu do chưa nhận thức được tầm quan trọng của chương trình can thiệp, thiếu sự đồng thuận, phối hợp của chính quyền các cấp, các lực lượng công an, y tế, lao động thương binh xã hội, dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức triển khai thực hiện.
Chung Nhi