Đạt nhiều thành tựu song không ít thách thức
TS Trần Văn Chiến, Viện trưởng Viện Khoa học DSGĐTE cho biết, theo đề án “Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam giai đoạn 2007-2020” mặc dù Việt Nam đạt nhiều thành tựu về nâng cao chất lượng dân số, nhưng thách thức mới cũng không ít. Tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi giảm mạnh từ 32,5% năm 1999 xuống còn 27,3% năm 2006.
Do đó, làm giảm áp lực đối với sự phát triển cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và chăm sóc sức khỏe trẻ em. Thậm chí, nhiều địa phương còn giảm số lượng lớp học, phòng học để đầu tư nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.
Thể lực và tầm vóc của người Việt Nam đã có những phát triển tương đối tốt, cải thiện rõ rệt so với năm 1975. Sau 25 năm chiều cao trung bình của nam thanh niên 18-19 tuổi tăng 4,5 cm và nữ tăng 4 cm. Tuy nhiên, chiều cao của thanh niên Việt Nam so với các nước còn khoảng cách rất xa.
Chỉ số phát triển con người ở nước ta tiếp tục tăng từ 0,539 điểm, xếp thứ 120/174 nước trên thế giới năm 1995 lên 0,704 điểm, xếp thứ 108/177 nước tham gia xếp hạng năm 2005.
Cũng theo TS Chiến, hiện nay, tại Việt Nam, một số chỉ tiêu về sức khỏe bà mẹ, trẻ em đạt kết qủa khá tốt do phát triển kinh tế và đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tỉ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 44,4%o năm 1989 xuống còn 17,8%o năm 2005, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm nhanh từ 51,5% năm 1990 xuống còn 25,2% năm 2005.
Mặc dù vậy, vẫn còn những thách thức cần giải quyết để nâng cao chất lượng dân số. Năm 2005, tỉ suất tử vong mẹ còn ở mức cao, tới 80/100.000 trẻ sinh ra sống, cao hơn CHDCND Triều Tiên (67/100.000), gấp 2 lần so với một số nơi trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia; gấp 4 lần so với Hàn Quốc.
Tỉ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi của cả nước là 17,8%o nhưng ở một số vùng còn rất cao, tới 25-34% như vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ; tỉ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi ở một số vùng còn cao tới 30-35% như Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên.
Nước ta có 5,3 triệu người tàn tật, chiếm 6,3% dân số, trong đó, tỉ lệ tàn tật do nguyên nhân chiến tranh thấp hơn so với tàn tật do các nguyên nhân mắc phải bởi tai nạn giao thông, tai nạn lao động và dị tật bẩm sinh.
Trong số 1 triệu trẻ em tàn tật thì các nguyên nhân về dị tật bẩm sinh, tai nạn thương tích chiếm tỉ lệ cao; nhu cầu chăm sóc, phát hiện, điều trị sớm và phục hồi chức năng đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của Nhà nước và toàn xã hội.
Tỉ lệ dân số bị thiểu năng thể lực và trí tuệ chiếm tới 1,5% dân số và hàng năm vẫn tiếp tục tăng thêm do số trẻ em sinh ra bị dị tật và các bệnh bẩm sinh, đòi hỏi phải triển khai mở rộng trên phạm vi cả nước các chương trình sàng lọc trước sinh, sơ sinh và các biện pháp can thiệp kịp thời.
Mặc dù tuổi thọ bình quân của nước ta đạt khá cao là 71,3 tuổi so với mức thu nhập của nền kinh tế, nhưng theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (năm 2002) thì tuổi thọ bình quân khỏe mạnh lại rất thấp, chỉ đạt 58,2 tuổi và xếp thứ 116 so với 174 nước trên thế giới.
Tình trạng dịch bệnh, nhất là bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục HIV/AIDS là rất đáng lo ngại. Tính đến ngày 31/12/2006, cả nước đã phát hiện 116.565 trường hợp nhiễm HIV/AIDS. Đáng lo ngại là tỉ lệ nhóm người trẻ tuổi (20-29) - những người có sức lao động và sáng tạo dồi dào nhất, chiếm 55,3% số người bị nhiễm HIV.
Bên cạnh đó, nước ta đang phải đối mặt với những thách thức như: Tỉ số giới tính khi sinh có xu hướng tăng, phá vỡ quy luật cân bằng giới tính; tỉ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên được dự báo sẽ tăng vượt ngưỡng của một quốc gia có cơ cấu dân số già.
7 giải pháp nâng cao chất lượng dân số
Xác định những thách thức hiện hữu đặt ra cho dân số Việt Nam, đề án “Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam giai đoạn 2007-2020” đưa ra 7 giải pháp.
Đầu tiên là giải pháp về chính sách và tổ chức quản lý. đó là các chính sách duy trì mức sinh hợp lý để có cơ cấu dân số đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng và mở rộng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe gia đình và phúc lợi xã hội; kiểm soát tỉ lệ giới tính khi sinh; hỗ trợ cá nhân, gia đình có các vấn đề về bệnh di truyền; nâng cao phúc lợi xã hội; đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản cho người di cư.
Giải pháp tiếp theo được đưa ra là nhóm các hoạt động truyền thông giáo dục, chuyển đổi hành vi để tạo sự cam kết ủng hộ của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội về chương trình nâng cao chất lượng dân số; tăng cường tuyên truyền tư vấn, hỗ trợ nâng cao sức khỏe thể chất, trí tuệ và tinh thần cho các nhóm đối tượng đặc biệt; triển khai các mô hình cung cấp dịch vụ và vận động để tăng sự chấp nhận sàng lọc sơ sinh tại cộng đồng; đào tạo, cung cấp thiết bị cho các trung tâm tư vấn, dịch vụ dân số cấp tỉnh, thành phố.
Nâng cao tầm vóc, thể lực người Việt Nam và trình độ dân trí cũng là hai nhóm giải pháp để nâng cao chất lượng dân số trong thời điểm hiện tại. Đây là giải pháp yêu cầu có sự phối hợp tích cực của hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, vị thành niên, người cao tuổi và sự tham gia của ngành giáo dục.
Bên cạnh đó, đề án đưa ra 3 giải pháp tiếp theo : Xây dựng và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần; Tăng cường các dịch vụ xã hội chủ yếu có ảnh hưởng tới chất lượng dân số; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng phục vụ nâng cao chất lượng dân số.
Theo kế hoạch, từ 2011 - 2015, đề án sẽ được triển khai thực hiện tại 64 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Hạnh Quỳnh